TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
PHẦN MỞ ĐẦU
Bồi dưỡng, chăm sóc thế hệ trẻ là nhiệm vụ, là trách nhiệm lớn lao trong việc kế thừa, phát huy, phát triển bền vững của một dân tộc, do đó công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển con người.
Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc cải cách tư pháp đối với người chưa thành niên đã trở thành một yêu cầu cấp thiết. Ngày 09/11/2024, Quốc hội khóa XV đã chính thức thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là đạo luật chuyên biệt, lần đầu tiên quy định một cách hệ thống, toàn diện về chính sách hình sự dành riêng cho người dưới 18 tuổi.. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân được trợ giúp pháp lý; đồng thời bãi bỏ quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là bị hại trong vụ án hình sự có khó khăn về tài chính được trợ giúp pháp lý được quy định tại Luật Trợ giúp pháp lý 2017. Ngày 23/4/2026, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội. Theo đó, lần sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý này tiếp tục mở rộng hơn diện người được trợ giúp pháp lý; trong đó bổ sung thêm nhiều diện người chưa thành niên cho đồng bộ với Luật Tư pháp người chưa thành niên lý.
Điểm nhấn mang tính đột phá, thể hiện sâu sắc giá trị nhân văn của Luật tư pháp người chưa thành niên chính là hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng. Thay vì áp dụng những hình phạt nghiêm khắc trong hệ thống tư pháp hình sự truyền thống, xử lý chuyển hướng mở ra cơ hội để người chưa thành niên nhận thức sai lầm, sửa chữa khuyết điểm và tái hòa nhập cộng đồng mà không phải chịu những "vết sẹo" tâm lý hay sự kỳ thị từ xã hội.
Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết pháp luật và thông tin tiếp cận còn hạn chế, nhiều người chưa thành niên còn chưa biết đến quyền được trợ giúp pháp lý, hoặc không biết tìm đến đâu khi quyền lợi bị xâm phạm. Vì vậy, việc xây dựng tài liệu “Trợ giúp pháp lý về biện pháp xử lý chuyển lý cho người chưa thành niên “ là cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
1. Khái quát về trợ giúp pháp lý
Theo Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, trợ giúp pháp lý là việc Nhà nước cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý, qua đó góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Đây là một chính sách nhân văn, nhằm hỗ trợ những đối tượng yếu thế có điều kiện được bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Hệ thống trợ giúp pháp lý bao gồm: các Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước trực thuộc Sở Tư pháp. Đây là đơn vị nòng cốt, có đội ngũ trợ giúp viên pháp lý được tuyển dụng, đào tạo bài bản, các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm tổ chức hành nghề luật sư, trung tâm tư vấn pháp luật ký hợp đồng hoặc đăng ký với Sở Tư pháp để tham gia trợ giúp pháp lý; Cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý, cộng tác viên pháp lý.
Nhà nước bảo đảm kinh phí cho hoạt động trợ giúp pháp lý, đồng thời khuyến khích xã hội hóa để mở rộng nguồn lực. Đặc biệt, danh sách tổ chức và cá nhân thực hiện trợ giúp pháp lý được công khai để người dân dễ dàng tra cứu, lựa chọn.
2. Nguyên tắc trợ giúp pháp lý
Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định bốn nguyên tắc cơ bản trong hoạt động trợ giúp pháp lý, bao gồm: Tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý; Kịp thời, độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; Không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý.
Các nguyên tắc này là nền tảng định hướng toàn bộ hoạt động của tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý, thể hiện rõ bản chất nhân đạo, công bằng và pháp quyền của chính sách pháp luật nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý cho mọi công dân, đặc biệt là những người yếu thế trong xã hội.
Trước hết, việc tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý đòi hỏi mọi hành vi, lời nói và quyết định trong quá trình thực hiện vụ việc phải dựa trên cơ sở pháp luật, không bị chi phối bởi ý chí chủ quan hoặc áp lực từ bất kỳ cá nhân, tổ chức nào. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải luôn nắm vững quy định pháp luật hiện hành, áp dụng đúng quy trình nghiệp vụ, tuân theo các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và không được lợi dụng công việc để trục lợi cá nhân. Điều này góp phần bảo đảm tính chuẩn mực, thống nhất và minh bạch trong hoạt động trợ giúp pháp lý, qua đó củng cố niềm tin của người dân vào cơ quan thực thi công lý.
Thứ hai, nguyên tắc kịp thời, độc lập, trung thực và tôn trọng sự thật khách quan thể hiện yêu cầu về chất lượng và thái độ nghề nghiệp của người thực hiện trợ giúp pháp lý. “Kịp thời” nghĩa là mọi yêu cầu trợ giúp hợp pháp của người dân phải được xem xét, xử lý nhanh chóng, không để chậm trễ gây thiệt hại cho quyền lợi của họ. “Độc lập” thể hiện tính tự chủ trong tư duy pháp lý, không bị chi phối bởi ý kiến bên ngoài. “Trung thực” và “tôn trọng sự thật khách quan” nhấn mạnh trách nhiệm nghề nghiệp trong việc đánh giá chứng cứ, trình bày quan điểm bảo vệ quyền lợi dựa trên sự thật của vụ việc, không bóp méo hay làm sai lệch thông tin để đạt được kết quả thiên lệch.
Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý khẳng định mục tiêu cao nhất của hoạt động này là vì con người, vì công bằng xã hội. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đặt quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp lên hàng đầu trong mọi hành động, lựa chọn biện pháp hợp pháp và hiệu quả nhất để bảo vệ họ. Việc này đòi hỏi không chỉ kiến thức chuyên môn mà còn phải có bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao, luôn cân nhắc giữa các phương án pháp lý nhằm mang lại lợi ích tối đa trong khuôn khổ pháp luật.
Thứ tư, nguyên tắc không thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được trợ giúp pháp lý phản ánh rõ tính chất phi lợi nhuận, nhân đạo của hoạt động này. Trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân – đặc biệt là người nghèo, người yếu thế, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng và các nhóm dễ bị tổn thương khác – nhằm bảo đảm họ được tiếp cận công lý bình đẳng như mọi công dân khác. Vì vậy, tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý tuyệt đối không được nhận bất kỳ khoản tiền, quà tặng, lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào từ người được trợ giúp, dù dưới hình thức “biếu”, “cảm ơn” hay “hỗ trợ”. Việc nghiêm cấm này không chỉ bảo đảm tính trong sạch, liêm chính của đội ngũ trợ giúp viên mà còn duy trì hình ảnh khách quan, công tâm của hệ thống TGPL nhà nước.
Từ những nội dung trên có thể khẳng định rằng, mọi hoạt động trợ giúp pháp lý đều phải được thực hiện đúng pháp luật, phù hợp đạo đức xã hội và tuân thủ quy tắc nghề nghiệp. Vụ việc TGPL cần được tiếp nhận và xử lý kịp thời, đúng trình tự; các quan điểm pháp lý phải độc lập, dựa trên chứng cứ, tài liệu xác thực; đồng thời thể hiện tinh thần nhân văn, vì con người và vì công lý. Bản thân người thực hiện TGPL không chỉ là “người giúp đỡ pháp lý” mà còn là người bảo vệ công lý và niềm tin pháp luật trong cộng đồng.
Cuối cùng, cần nhận thức rõ rằng hoạt động TGPL là trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nhà nước có nghĩa vụ đầu tư ngân sách, nhân lực, cơ sở vật chất và cơ chế quản lý để duy trì, phát triển mạng lưới TGPL đến tận cơ sở. Khi hệ thống TGPL hoạt động hiệu quả, tuân thủ các nguyên tắc của Luật, không chỉ bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của từng cá nhân mà còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật, tăng cường niềm tin của người dân vào công lý và củng cố nền tảng của một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.3. Các hình thức trợ giúp pháp lý
Hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam được Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định rõ ràng, bao gồm nhiều hình thức khác nhau nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu của người dân. Tư vấn pháp luật là hình thức phổ biến nhất, trong đó trợ giúp viên hoặc luật sư giải thích, hướng dẫn, đưa ra ý kiến pháp lý để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngoài tư vấn, trợ giúp pháp lý còn có thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người được trợ giúp trong quá trình giải quyết khiếu nại tại tòa án hoặc tham gia cùng cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, đại diện ngoài tố tụng là hình thức quan trọng, khi trợ giúp viên thay mặt người dân tiến hành các thủ tục pháp lý như nộp đơn, làm việc với cơ quan hành chính.
4. Người được trợ giúp pháp lý
Theo Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, hiện nay có 14 đối tượng thuộc diện được trợ giúp pháp lý, đó là:
“1. Người có công với cách mạng.
2. Người thuộc hộ nghèo.
3. Trẻ em.
4. Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
5. Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.
6. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân được trợ giúp pháp lý;
7. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về tài chính (người thuộc hộ cận nghèo hoặc là người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật):
- Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ;
- Người nhiễm chất độc da cam;
- Người cao tuổi;
- Người khuyết tật;
- Nạn nhân trong vụ việc bạo lực gia đình;
- Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người;
- Người nhiễm HIV.”
5. Yêu cầu trợ giúp pháp lý
Căn cứ quy định tại Điều 29 Luật Trợ giúp pháp lý, khi yêu cầu trợ giúp pháp lý, người yêu cầu phải nộp hồ sơ cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, hồ sơ gồm có:
- Đơn yêu cầu trợ giúp pháp lý;
- Giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;
- Các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý.
Việc nộp hồ sơ yêu cầu trợ giúp pháp lý được thực hiện như sau:
Trường hợp nộp trực tiếp tại trụ sở của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 29 (tức là đơn và các giấy tờ tài liệu có liên quan đến vụ việc); xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;
Trường hợp người yêu cầu trợ giúp pháp lý không thể tự mình viết đơn yêu cầu thì người tiếp nhận yêu cầu có trách nhiệm ghi các nội dung vào mẫu đơn để họ tự đọc hoặc đọc lại cho họ nghe và yêu cầu họ ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn;
Trường hợp gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, người yêu cầu trợ giúp pháp lý nộp các giấy tờ, tài liệu quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này, bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý;
Trường hợp gửi hồ sơ qua fax, hình thức điện tử, khi gặp người thực hiện trợ giúp pháp lý, người yêu cầu trợ giúp pháp lý phải xuất trình bản chính hoặc nộp bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh là người được trợ giúp pháp lý.
Luật Trợ giúp pháp lý cho phép người được trợ giúp pháp lý có thể nộp hồ sơ trực tiếp tại tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý hoặc nộp qua dịch vụ bưu chính. Trong một số trường hợp có thể thông qua các tổ chức, cá nhân khác để nộp hồ sơ như trong trường hợp người khuyết tật, người mù chữ, trẻ em, người bị giam, giữ ... không thể tự mình yêu cầu trợ giúp pháp lý, nộp hồ sơ. Quy định này đảm bảo được mọi đối tượng thuộc diện trợ giúp pháp lý có nhu cầu đều có thể tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí.
II. KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG TRONG TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Tư pháp người chưa thành niên (NCTN) là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống tư pháp hình sự, nhưng mang những đặc thù riêng biệt xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý và sự phát triển chưa hoàn thiện của người dưới 18 tuổi. Trong đó, chế định Xử lý chuyển hướng (XLCH) không chỉ là một công cụ kỹ thuật pháp lý mà còn là biểu hiện tập trung nhất của giá trị nhân đạo xã hội chủ nghĩa, hướng tới việc bảo vệ và nuôi dưỡng thế hệ tương lai.
1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp xử lý chuyển hướng
1.1. Khái niệm xử lý chuyển hướng (XLCH)
Theo lý luận tư pháp hiện đại và tinh thần của Luật Tư pháp NCTN 2024, XLCH được hiểu là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định không áp dụng quy trình tố tụng hình sự thông thường hoặc không áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội. Thay vào đó, các em được chuyển hướng sang các biện pháp giáo dục, phòng ngừa và hỗ trợ tại cộng đồng hoặc các cơ sở chuyên biệt nhằm giúp các em nhận thức sai lầm và sửa chữa hành vi mà không bị coi là có án tích.
1.2. Đặc điểm đặc thù của xử lý chuyển hướng
· Tính nhân văn và hướng thiện:
Mục tiêu tối thượng không phải là "trừng phạt" để trả đũa hành vi sai trái, mà là "phục hồi" nhận thức và nhân cách.
· Tính tự nguyện và đồng thuận:
Khác với hình phạt mang tính cưỡng chế đơn phương, XLCH đòi hỏi sự thừa nhận sai lầm và cam kết tuân thủ của NCTN cùng sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
· Tính cá thể hóa cao độ:
Mỗi biện pháp XLCH được lựa chọn dựa trên sự đánh giá kỹ lưỡng về hoàn cảnh gia đình, tâm lý và nguyên nhân phạm tội riêng biệt của từng em, thay vì chỉ căn cứ vào hậu quả của tội phạm.
· Sự tham gia đa ngành:
(Ảnh minh họa)
XLCH xóa bỏ rào cản giữa tư pháp và xã hội, mang lại mối quan hệ có sự tham gia phối hợp của gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương và đặc biệt là đội ngũ nhân viên công tác xã hội.
2. Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc áp dụng xử lý chuyển hướng
2.1 Triết lý tư pháp phục hồi:
(Ảnh minh họa)
Về bản chất, XLCH được xây dựng trên nền tảng của tư pháp phục hồi. Khác với tư pháp trừng phạt tập trung vào việc áp đặt sự đau đớn cho người phạm tội, tư pháp phục hồi chú trọng vào việc hàn gắn các mối quan hệ bị tổn thương, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân và giúp NCTN tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
2.2. Ý nghĩa đối với người chưa thành niên
XLCH giúp tránh được tình trạng "dán nhãn" tội phạm. Bởi việc bị đưa vào quy trình tố tụng hình sự truyền thống và phải chịu án tích thường ảnh hưởng rất nhiều tới tâm lý NCTN, gây ra mặc cảm tội lỗi sâu sắc, làm mất đi cơ hội học tập, việc làm và dễ dẫn đến xu hướng "tái phạm hóa" do bị xã hội chối bỏ.
2.3. Ý nghĩa đối với xã hội và hệ thống tư pháp
· Tối ưu hóa nguồn lực tư pháp:
Việc áp dụng xử lý chuyển hướng giúp đơn giản hóa thủ tục, giảm tải áp lực cho hệ thống tòa án và các cơ sở giam giữ. Điều này cho phép các cơ quan tố tụng tập trung nguồn lực vào những vụ án phức tạp, đồng thời giải quyết các vi phạm của người chưa thành niên một cách nhanh chóng, kịp thời.
· Xây dựng hình ảnh tư pháp thân thiện:
Việc thiết kế mô hình phòng xử án trên cùng một mặt phẳng, Thẩm phán mặc trang phục hành chính... giúp xóa bỏ rào cản tâm lý giữa "người cầm cân nảy mực" và trẻ em. Đây là minh chứng cho một nền tư pháp văn minh, tiến bộ, tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế của Liên Hợp Quốc.
· Xây dựng xã hội an toàn và nhân văn:
+ Ngăn ngừa tái phạm và giảm thiểu kỳ thị: Bằng cách giữ người chưa thành niên ở lại cộng đồng dưới sự giám sát của gia đình và xã hội, chúng ta ngăn chặn được "sự lây lan" tiêu cực từ môi trường giam giữ. Điều này giúp các em duy trì việc học tập, nghề nghiệp và tránh được vết nhục tâm lý suốt đời, từ đó giảm tỷ lệ tái phạm trong tương lai.
+ Huy động sức mạnh cộng đồng: Các biện pháp như "Bồi thường thiệt hại", "Tham gia công việc công ích" hay "Tham vấn tâm lý" buộc cộng đồng, nhà trường và gia đình phải cùng vào cuộc. Xã hội không còn đứng ngoài cuộc như một người quan sát mà trở thành một thực thể hỗ trợ, giúp người trẻ nhận thức được trách nhiệm đối với hành vi của mình.
3. Sự cần thiết ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng
3.1. Hạn chế của quy định pháp luật trước năm 2024
Trước khi Luật năm 2024 ra đời, các quy định về XLCH nằm rải rác trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự với chỉ 03 biện pháp mang tính chất sơ sài. Thực tiễn cho thấy các quy định này còn cứng nhắc, chưa tạo ra cơ chế pháp lý đủ mạnh để các cơ quan tố tụng mạnh dạn áp dụng XLCH, dẫn đến tỷ lệ NCTN phải hầu tòa vẫn còn cao.
3.2. Yêu cầu của cải cách tư pháp và chuẩn mực quốc tế
· Thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW:
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đòi hỏi một hệ thống pháp luật tư pháp NCTN chuyên biệt, hiện đại và nhân văn.
· Tương thích với Công ước quốc tế:
Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) mà Việt Nam là thành viên đòi hỏi phải có các biện pháp thay thế việc xét xử và giam giữ NCTN. 12 biện pháp XLCH mới chính là câu trả lời mạnh mẽ của Việt Nam đối với các cam kết quốc tế này.
3.3. Tầm quan trọng của việc quy định chi tiết 12 biện pháp xử lý chuyển hướng
Việc luật hóa 12 biện pháp xử lý chuyển hướng không chỉ mở rộng danh mục lựa chọn cho các nhà thực thi pháp luật mà còn tạo ra một "hệ sinh thái" giáo dục pháp lý hoàn chỉnh. Mỗi biện pháp (từ khiển trách đến giáo dục tại trường giáo dưỡng) đều là một nấc thang giúp NCTN quay trở lại với cuộc sống đời thường, bảo đảm rằng không một trẻ em nào bị bỏ lại phía sau chỉ vì những lỗi lầm nhất thời của tuổi trẻ.
III. NỘI DUNG VÀ CƠ CHẾ ÁP DỤNG 12 BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG THEO LUẬT TƯ PHÁP NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 2024
Trên thực tế, ngoài Luật tư pháp người chưa thành niên 2024, các biện pháp xử phạt dành cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật còn được quy định tại Điều 135, 136 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 (văn bản hợp nhất 2025). Thế nhưng mang theo sứ mệnh nhân văn và rộng mở hơn, sự ra đời của 12 biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 không phải là sự lắp ghép cơ học, mà là một hệ thống được thiết kế có chủ đích, phân tầng theo mức độ nghiêm trọng của hành vi và nhu cầu can thiệp của từng cá nhân. Dựa trên căn cứ nghiên cứu về tâm lý của nhóm NCTN thường rất phức tạp, dễ bị dao động mạnh bởi môi trường xung quanh dẫn đến sự hoảng loạn, mặc cảm và xu hướng phản kháng bộc phát do đặc điểm lứa tuổi chưa phát triển toàn diện về nhận thức và kiểm soát cảm xúc. Chính vì vậy hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng được sinh ra, bao phủ từ những tác động nhẹ nhàng nhất vào nhận thức (khiển trách) cho đến sự cách ly có thời hạn (trường giáo dưỡng).
(Ảnh minh họa)
Trong phạm vi bài viết, tác giả chia 12 biện pháp này thành 04 nhóm cơ bản để thuận tiện cho việc phân tích.
1. Nhóm các biện pháp mang tính răn đe và giáo dục nhận thức[MT2]
Đây là nhóm biện pháp được ưu tiên áp dụng cho các vi phạm lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng, lỗi vô ý hoặc hành vi chưa gây ra hậu quả lớn cho xã hội. Mục tiêu cốt lõi không phải là trừng trị, mà là đánh thức "lương tri" và trách nhiệm đạo đức của người chưa thành niên.
1.1. Biện pháp Khiển trách
· Nội dung và cơ chế áp dụng:
Điều 40 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định khiển trách như sau:
“1. Khiển trách là việc phê bình nghiêm khắc đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó giải thích về thiệt hại mà người chưa thành niên đã gây ra và hậu quả nếu tiếp tục vi phạm. Việc khiển trách được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, tại phiên tòa hoặc được thi hành tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên phạm tội cư trú.
2. Khiển trách có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng do vô ý hoặc phạm tội ít nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự;
b) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp khiển trách phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.”
* Tình huống minh họa
Em Nguyễn Văn A (15 tuổi) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, do ham chơi và bị bạn bè rủ rê nên đã có hành vi trộm cắp một chiếc xe đạp điện của bạn cùng trường (trị giá khoảng 8 triệu đồng). Em A có nhân thân tốt, chưa từng vi phạm pháp luật, phạm tội lần đầu và sau khi bị bắt đã thành khẩn khai báo, gia đình đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Bên người bị hại cũng đã viết đơn bãi nại và xin giảm nhẹ cho A.
Quy trình áp dụng biện pháp Khiển trách dành cho em A như sau:
Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) có thể quyết định áp dụng biện pháp khiển trách thay vì truy cứu trách nhiệm hình sự theo các bước sau:
1. Ấn định thời gian và địa điểm: Cơ quan thụ lý vụ án tổ chức một buổi lễ khiển trách công khai nhưng đảm bảo tính riêng tư, không gây áp lực tâm lý nặng nề cho người chưa thành niên.
2. Thành phần tham dự gồm có:
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (Người trực tiếp ra quyết định). Người chưa thành niên vi phạm (em A). Cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của em A. Trợ giúp viên pháp lý được phân công hỗ trợ hợp pháp cho em A. Ngoài ra có thể có sự tham gia của đại diện nhà trường, người làm công tác xã hội…
Nội dung buổi khiển trách:
Giải thích cho A hiểu rõ tính chất nguy hiểm của hành vi trộm cắp và những quy định pháp luật liên quan. Đồng thời chỉ ra hậu quả mà hành vi đó gây ra cho xã hội và bị hại. Sau đó lắng nghe ý kiến và cam kết của A về việc không tái phạm.
Nội dung văn bản Khiển trách
Quyết định áp dụng biện pháp khiển trách sẽ ghi rõ: Thời gian thử thách (thông thường là từ 03 tháng đến 06 tháng (theo quy định của Luật mới)). Nghĩa vụ của người vi phạm, trong đó có nêu rõ việc phải thực hiện đầy đủ các cam kết về tu dưỡng, rèn luyện; không được tái phạm hành vi vi phạm pháp luật; đến trình diện khi có yêu cầu từ cơ quan có thẩm quyền hoặc tổ chức được giao giám sát.
· Điểm nhấn của Biện pháp Khiển trách:
Khác với án tích trong luật hình sự, khiển trách chuyển hướng không để lại "vết nhơ" trong lý lịch tư pháp, giúp các em không bị tước đi các cơ hội học tập và việc làm trong tương lai. Biện pháp Khiển trách có thể được xem là biện pháp nhẹ nhàng nhất. Tuy nhiên, khiển trách không phải là một lời nhắc nhở thông thường. Nó mang sức nặng của quyền lực Nhà nước:
- Tác động vào lòng tự trọng:
Buổi khiển trách được tổ chức chính thức với sự hiện diện của Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc Thẩm phán cùng gia đình. Đối với một người trẻ, việc phải đứng trước cơ quan công quyền để nghe phân tích về sai phạm của mình là một tác động tâm lý mạnh mẽ, đánh thức sự hối lỗi và ý thức trách nhiệm.
- Xác lập ranh giới đỏ:
Khiển trách đóng vai trò là một lời cảnh báo chính thức từ Nhà nước: "Hành vi này là sai trái và đây là cơ hội duy nhất để sửa đổi trước khi các biện pháp nghiêm khắc hơn được áp dụng". Điều này giúp người chưa thành niên hình thành bộ lọc hành vi trong tương lai.
Ý nghĩa cốt lõi của Biện pháp Khiển trách không nằm ở sự trừng phạt mà nằm ở sự định hướng. Nó giống như một tấm gương được Nhà nước đưa ra để người chưa thành niên soi lại mình, nhận ra vết nhám trong nhân cách và tự mình lau sạch vết nhám đó dưới sự giám sát đầy bao dung của pháp luật. Đây chính là biểu hiện sinh động nhất của nguyên tắc "Lấy người chưa thành niên làm trung tâm" mà luật mới hướng tới.
1.2. Biện pháp Xin lỗi người bị hại
· Nội dung và cơ chế áp dụng:
Điều 41 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Xin lỗi bị hại” cụ thể như sau:
“1. Xin lỗi bị hại là việc người chưa thành niên phạm tội nhận lỗi với bị hại và mong muốn được tha thứ về hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Việc xin lỗi bị hại được thi hành ngay tại phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng hoặc tại phiên tòa.
2. Xin lỗi bị hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;
c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Xin lỗi bị hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc người đại diện của họ.
4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp xin lỗi bị hại phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.”
Biện pháp này đòi hỏi sự tự nguyện từ cả hai phía. Người chưa thành niên phải nhận thức được tổn thương mình gây ra và chân thành xin lỗi. Ngược lại, người bị hại cũng cần được tham vấn để sẵn sàng đón nhận lời xin lỗi mà không biến buổi gặp mặt thành nơi nhiếc móc, thóa mạ.
· Ý nghĩa mang lại:
- Đối với người chưa thành niên: Đánh thức lương tri và trách nhiệm
Đối với một người trẻ lầm lỡ, hình phạt tù hay sự trừng phạt về thể xác đôi khi không hiệu quả bằng việc buộc các em phải đối diện trực tiếp với nỗi đau mình đã gây ra.
+ Chuyển hóa nhận thức: Việc xin lỗi yêu cầu người chưa thành niên phải nhìn nhận thẳng thắn vào hành vi sai trái của mình. Nó giúp các em hiểu rằng tội phạm không chỉ là vi phạm điều luật khô khan, mà là gây tổn thương cho một con người cụ thể.
+ Giải tỏa mặc cảm: Một lời xin lỗi chân thành là bước đầu tiên để giải phóng người chưa thành niên khỏi sự dằn vặt và mặc cảm tội lỗi. Nó mở ra con đường "tự chữa lành" nhân cách, giúp các em tự tin hơn khi tái hòa nhập cộng đồng.
+ Giáo dục đạo đức thực hành: Thay vì học lý thuyết về đúng - sai, việc trực tiếp nói lời xin lỗi là một bài học thực tế về sự bao dung, lòng trắc ẩn và trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng.
- Đối với người bị hại: Sự ghi nhận và xoa dịu tổn thương
Trong tư pháp hình sự truyền thống, người bị hại thường bị xem là "nhân chứng" hơn là một người cần được bù đắp về mặt cảm xúc. Biện pháp xin lỗi đã thay đổi hoàn toàn điều này.
+ Xoa dịu tâm lý: Đối với nhiều người bị hại, sự công nhận lỗi lầm từ phía người gây ra thiệt hại đôi khi quan trọng hơn cả việc bồi thường vật chất. Nó giúp họ cảm thấy được tôn trọng và tổn thương của mình được xã hội thừa nhận.
+ Xóa bỏ hận thù: Lời xin lỗi chân thành có khả năng "hạ nhiệt" những xung đột gay gắt. Nó giúp ngăn chặn vòng xoáy hận thù và những hành vi trả đũa ngoài pháp luật, tạo điều kiện cho sự tha thứ và bao dung.
+ Quyền được lắng nghe: Trong quy trình xin lỗi, người bị hại có cơ hội nói lên những khó khăn, mất mát của mình, giúp họ cảm thấy mình là một phần chủ động trong quá trình tìm kiếm công lý.
- Đối với xã hội: Xây dựng sự gắn kết và an toàn bền vững
Xã hội không an toàn hơn khi có thêm nhiều người đi tù, mà an toàn hơn khi có thêm nhiều người nhận thức được lỗi lầm và biết cách hàn gắn.
+ Hàn gắn mối quan hệ cộng đồng: Tội phạm làm rạn nứt các mối quan hệ xã hội. Biện pháp xin lỗi giúp nối lại những sợi dây liên kết đó, đặc biệt là khi cả người vi phạm và người bị hại cùng sống trong một khu dân cư.
+ Tiết kiệm nguồn lực tư pháp: Khi một vụ việc được giải quyết thông qua sự xin lỗi và tha thứ, hệ thống tư pháp không cần phải huy động các nguồn lực khổng lồ cho việc giam giữ và quản lý phạm nhân, vốn thường tốn kém và ít hiệu quả giáo dục đối với trẻ em.
+ Lan tỏa giá trị nhân văn: Biện pháp này gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tinh thần thượng tôn pháp luật gắn liền với đạo lý truyền thống của dân tộc: "Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại".
2.1.3. Biện pháp Bồi thường thiệt hại
· Cơ sở lý luận:
Điều 42 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Bồi thường thiệt hại” cụ thể như sau:
“1. Bồi thường thiệt hại là việc người chưa thành niên phạm tội hoặc cha, mẹ của họ khắc phục hậu quả của hành vi phạm tội mà người chưa thành niên gây ra bằng cách đền bù tổn hại về vật chất, tinh thần do xâm hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của bị hại.
2. Bồi thường thiệt hại có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này;
c) Người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
3. Bồi thường thiệt hại được áp dụng khi có sự đồng thuận của bị hại hoặc người đại diện của họ. Cơ quan có thẩm quyền ấn định thời gian thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại nhưng không quá 01 năm.
4. Người chưa thành niên phạm tội bị áp dụng biện pháp bồi thường thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này từ 03 tháng đến 01 năm.”
Đi liền với lời xin lỗi là trách nhiệm khắc phục hậu quả vật chất. Hoặc có thể nói, nếu biện pháp "Xin lỗi" tác động vào tâm hồn, thì "Bồi thường thiệt hại" tác động vào hành động thực tế để khắc phục hậu quả. Việc bồi thường giúp người chưa thành niên hiểu nguyên tắc: "Có vay có trả, có thiệt hại phải đền bù", từ đó hình thành ý thức tôn trọng tài sản, sức khỏe của người khác.
· Nội dung và cơ chế áp dụng:
Nút thắt lớn nhất của biện pháp này là năng lực tài chính, bởi người dưới 18 tuổi hầu hết chưa có thu nhập độc lập. Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 giải quyết vấn đề này thông qua cơ chế: Cha mẹ, người giám hộ có trách nhiệm liên đới bồi thường; hoặc khuyến khích người chưa thành niên bồi thường bằng chính sức lao động phù hợp với lứa tuổi (ví dụ: làm việc để trả nợ, sửa chữa lại tài sản đã phá hoại) dưới sự đồng ý của người bị hại.
· Ý nghĩa mang lại:
- Xác lập ý thức về trách nhiệm và hệ quả
Đối với người chưa thành niên (NCTN), khái niệm về "tài sản" hay "sức khỏe" của người khác đôi khi còn khá mơ hồ. Việc buộc phải bồi thường giúp các em định hình lại tư duy:
+ Mối liên hệ giữa Hành vi và Hậu quả:
Biện pháp này giúp NCTN hiểu rằng mọi sai lầm đều có "giá" của nó. Khi các em phá hỏng một món đồ hoặc gây thương tích cho người khác, các em phải có trách nhiệm hoàn trả hoặc chi trả. Điều này giúp ngăn chặn tư duy "phạm tội rồi thôi" hoặc ỷ lại vào sự bao dung của người lớn.
+ Giá trị của lao động:
Một điểm mới nhân văn là Luật khuyến khích NCTN tự mình thực hiện việc bồi thường bằng chính công sức hoặc tài sản riêng (nếu có). Khi phải dùng tiền tiết kiệm hoặc lao động để có tiền bồi thường, các em sẽ biết quý trọng tài sản của mình và của người khác hơn.
- Ưu tiên quyền lợi của người bị hại
Trong tư pháp truyền thống, người bị hại thường phải chờ đợi quy trình tố tụng kéo dài để nhận được bồi thường. Xử lý chuyển hướng rút ngắn khoảng cách này:
+ Khắc phục kịp thời:
Bồi thường trong xử lý chuyển hướng thường diễn ra sớm, giúp người bị hại nhanh chóng nhận được sự hỗ trợ về vật chất (tiền thuốc men, sửa chữa tài sản). Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc giảm bớt những khó khăn thực tế mà nạn nhân đang phải gánh chịu.
+ Hóa giải mâu thuẫn:
Khi thiệt hại về vật chất được bù đắp thỏa đáng, sự bức xúc của người bị hại và gia đình họ sẽ giảm xuống đáng kể. Đây là nền tảng quan trọng để họ dễ dàng chấp nhận lời xin lỗi và đồng ý cho NCTN được hưởng các biện pháp chuyển hướng khác thay vì yêu cầu truy tố.
- Gắn kết trách nhiệm gia đình và cộng đồng
Biện pháp bồi thường thiệt hại còn là cầu nối gắn kết trách nhiệm của gia đình đối với NCTN:
+ Vai trò của người giám hộ:
Vì NCTN phần lớn chưa có thu nhập độc lập, nên cha mẹ hoặc người giám hộ thường là bên liên đới bồi thường. Quá trình này buộc gia đình phải nhìn nhận lại trách nhiệm trong việc quản lý, giáo dục con cái, đồng thời cùng con "trả nợ" cho xã hội.
+ Giảm thiểu các vụ kiện dân sự kéo dài:
Việc giải quyết bồi thường ngay trong quá trình xử lý chuyển hướng giúp tránh được các vụ kiện dân sự phát sinh sau này, giảm áp lực cho hệ thống tòa án và giảm bớt chi phí xã hội.
-----o0o----
2. Nhóm các biện pháp quản lý và giám sát tại cộng đồng
Nhóm biện pháp này can thiệp trực tiếp vào môi trường sống và sinh hoạt của người chưa thành niên. Tội phạm học hiện đại chỉ ra rằng, phần lớn nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn của trẻ em bắt nguồn từ môi trường độc hại (bạn bè xấu, địa điểm không lành mạnh).
2.1. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến phạm tội
Căn cứ pháp lý: Điều 46 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới” cụ thể như sau:
“1. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội giao tiếp, liên lạc, tiếp cận với bị hại, đồng phạm, người có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi của người chưa thành niên có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.”
· Phân tích chuyên sâu:
Áp lực đồng trang lứa là một đặc trưng tâm lý của tuổi vị thành niên. Việc cấm tiếp xúc nhằm "cắt đứt" nguồn lây nhiễm các thói hư tật xấu. Danh sách những người bị cấm tiếp xúc sẽ được cơ quan có thẩm quyền xác định rõ ràng (có thể là đồng phạm cũ, các đối tượng giang hồ cộm cán tại địa phương). Biện pháp này không đánh mạnh vào tài chính hay sự sám hối như "Bồi thường" hay "Xin lỗi", mà tập trung vào việc cách ly nguồn tác động tiêu cực.
· Cơ chế giám sát:
Biện pháp này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Cảnh sát khu vực, Tổ dân phố và Gia đình. Sự phát triển của công nghệ giám sát (camera khu phố, theo dõi qua thiết bị điện tử nếu được áp dụng) cũng là một công cụ hỗ trợ đắc lực.
Tình huống minh họa:
Em Trần Văn B (15 tuổi) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, đã bỏ học, hiện đang sống cùng bà ngoại do bố mẹ đi làm xa. Do thiếu sự quản lý, B thường xuyên tụ tập với một nhóm thanh niên lớn tuổi trong xóm (nhóm này gồm nhiều đối tượng có tiền án về tội trộm cắp và thường xuyên sử dụng chất kích thích). Vừa qua, B đã tham gia cùng nhóm này thực hiện hành vi "Gây rối trật tự công cộng" ở mức độ ít nghiêm trọng. B đóng vai trò là người đi theo, chưa trực tiếp tham gia đánh nhau hay hủy hoại tài sản. Trong quá trình điều tra, B thể hiện sự hối hận và cam kết muốn tách rời khỏi nhóm bạn xấu để đi học nghề.
Sau khi kết luận, cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp “Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến phạm tội” đối với B với các nội dung cụ thể:
a. Đối tượng cấm tiếp xúc: Cấm B gặp gỡ, liên lạc (bao gồm cả gọi điện, nhắn tin qua các ứng dụng mạng xã hội như Facebook, Zalo,...) với 03 đối tượng cầm đầu nhóm thanh niên tên là X, Y và Z. Đồng thời kết hợp cấm tụ tập tại các địa điểm thường xuyên là nơi nhóm này "đóng quân" (như quán điện tử hoặc tiệm sửa xe).
b. Thời hạn áp dụng: 09 tháng
c. Cơ quan giám sát gồm có: Công an xã/phường nơi B cư trú phối hợp chặt chẽ cùng gia đình (bà ngoại và bố mẹ B). Bên cạnh còn có sự tham gia của người làm công tác xã hội được phân công để hỗ trợ B tìm kiếm định hướng nghề nghiệp mới.
Cách thức kiểm tra và thực hiện
+ Về cá nhân: em B phải viết bản cam kết thực hiện đúng các điều kiện về cấm tiếp xúc theo cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
+ Giám sát cộng đồng: Người làm công tác xã hội định kỳ thường xuyên gặp gỡ em B và gia đình để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng cũng như kiểm tra việc B có duy trì mối quan hệ với nhóm bạn xấu hay không. Bên cạnh đó, để tăng tính hiệu quả, cơ quan chức năng cần can thiệp đồng thời hỗ trợ em B đăng ký một khóa học nghề ngắn hạn tại trung tâm giáo dục thường xuyên để lấp đầy thời gian rảnh và thay đổi môi trường giao tiếp cho em.
· Cơ chế thực thi và những thách thức của Biện pháp Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến phạm tội
Để biện pháp này thực sự phát huy vai trò, cần có sự phối hợp chặt chẽ:
+ Xác định đối tượng cấm: Phải rõ ràng (họ tên, đặc điểm nhận dạng hoặc nhóm đối tượng cụ thể). Không thể cấm một cách chung chung.
+ Hình thức thực thi: Cấm gặp mặt trực tiếp và cấm cả việc liên lạc qua các nền tảng mạng xã hội (Zalo, Facebook, Game online) – nơi mà sự lôi kéo tội phạm đang diễn ra mạnh mẽ nhất hiện nay.
+ Thách thức giám sát: Đây là biện pháp khó giám sát nhất. Nếu không có sự theo dõi sát sao từ gia đình và sự vào cuộc của nhân viên công tác xã hội, lệnh cấm dễ trở thành "hình thức".
· Ý nghĩa: Tạo lập "Vùng đệm an toàn" cho người chưa thành niên
Đối với người dưới 18 tuổi, môi trường xã hội và các mối quan hệ bạn bè đóng vai trò quyết định đến việc hình thành hành vi.
+ Ngăn chặn sự "lây lan" hành vi xấu: Tội phạm học đã chỉ ra rằng người chưa thành niên thường phạm tội theo nhóm hoặc do sự xúi giục, lôi kéo. Biện pháp này giúp cắt đứt sợi dây liên kết giữa đối tượng và những "mầm mống" tiêu cực (như đồng phạm cũ, các đối tượng giang hồ, bạn bè nghiện ngập), ngăn chặn việc tái phạm theo kịch bản cũ.
+ Giải tỏa áp lực đồng trang lứa (Peer Pressure): Nhiều em phạm tội không phải vì bản chất xấu mà vì tâm lý muốn "thể hiện" với bạn bè hoặc sợ bị cô lập nếu không tham gia vào các hành vi lệch chuẩn. Lệnh cấm tiếp xúc cung cấp cho các em một "lý do hợp pháp" để từ chối những lời rủ rê mà không sợ bị mất mặt hay bị trả thù.
+ Hỗ trợ quá trình định hình lại nhân cách: Khi được tách rời khỏi những cá nhân có ảnh hưởng xấu, người chưa thành niên sẽ có không gian và thời gian để bình tâm, nhận thức lại giá trị bản thân và tìm kiếm những mối quan hệ mới tích cực hơn (thầy cô, bạn tốt, nhân viên công tác xã hội).
· Vai trò: Công cụ giám sát và phòng ngừa từ xa
Biện pháp này đóng vai trò như một "hàng rào bảo vệ" mềm nhưng nghiêm khắc trong quy trình xử lý chuyển hướng:
+ Công cụ can thiệp sớm: Thay vì chờ đến khi người chưa thành niên tái phạm mới xử lý, lệnh cấm tiếp xúc cho phép cơ quan chức năng can thiệp ngay khi thấy mầm mống rủi ro. Việc ngăn chặn các cuộc tụ tập, liên lạc với người xấu là cách tốt nhất để triệt tiêu điều kiện nảy sinh tội phạm.
+ Cơ sở để cá thể hóa việc quản lý: Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xác định danh sách cụ thể những người cần cấm tiếp xúc dựa trên hồ sơ điều tra xã hội của nhân viên công tác xã hội. Điều này đảm bảo tính chính xác, không cấm đoán cực đoan mà tập trung vào đúng những đối tượng có khả năng gây hại nhất.
+ Kích hoạt vai trò giám sát của gia đình và cộng đồng: Lệnh cấm tiếp xúc là căn cứ pháp lý để cha mẹ, nhà trường và cảnh sát khu vực có quyền can thiệp, ngăn chặn khi thấy các đối tượng xấu xuất hiện xung quanh người chưa thành niên. Nó tạo ra một cơ chế giám sát đa tầng, khiến người chưa thành niên luôn ý thức được việc phải giữ khoảng cách với cái xấu.
2.2. Cấm đến những địa điểm nhất định
Căn cứ pháp lý: Điều 47 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới” cụ thể như sau:
“1. Cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là việc cấm người chưa thành niên phạm tội đến địa điểm đã thực hiện hành vi phạm tội hoặc địa điểm có môi trường tương tự như nơi đã thực hiện hành vi phạm tội có nguy cơ thúc đẩy người chưa thành niên phạm tội mới.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đến địa điểm có nguy cơ dẫn đến người chưa thành niên phạm tội mới là từ 06 tháng đến 01 năm.”
· Phân tích chuyên sâu:
Ông cha ta thường có câu "Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng". Việc cấm các em lui tới các khu vực thường xuyên xảy ra tệ nạn xã hội là cách tạo ra một "vùng an toàn" giúp các em được hình thành thói quen và phát triển tâm lý trong môi trường lành mạnh.
· Thực tiễn áp dụng:
Quyết định chuyển hướng sẽ ghi rõ tên, địa chỉ hoặc loại hình cơ sở mà người chưa thành niên không được phép bước chân vào trong một thời hạn nhất định. Nếu vi phạm điều kiện này, biện pháp chuyển hướng có thể bị hủy bỏ để thay thế bằng một biện pháp nghiêm khắc hơn.
· Ý nghĩa: Cắt đứt "mạch máu" nuôi dưỡng hành vi lệch chuẩn
+ Vô hiệu hóa môi trường kích thích: Tội phạm học chỉ ra rằng nhiều hành vi vi phạm của người chưa thành niên không xuất phát từ bản chất mà do "hoàn cảnh mời gọi". Việc cấm các em đến các tụ điểm như quán bar, vũ trường, tiệm game online xuyên đêm hay các khu vực thường xuyên xảy ra tệ nạn xã hội sẽ triệt tiêu cơ hội tiếp xúc với các kích thích tiêu cực.
+ Hỗ trợ hình thành thói quen sinh hoạt lành mạnh: Khi "vùng xám" bị phong tỏa, người chưa thành niên buộc phải điều chỉnh quỹ thời gian của mình vào những không gian an toàn hơn như nhà ở, trường học, thư viện hay các khu vui chơi công cộng lành mạnh. Đây là bước đầu để tái thiết lập kỷ luật cá nhân.
+ Giảm thiểu rủi ro bị lôi kéo: Nhiều địa điểm là nơi trú ngụ của các đối tượng xấu hoặc là "thánh địa" của các hành vi bốc đồng. Việc thiết lập lệnh cấm này giúp người chưa thành niên tránh khỏi những tình huống "tình ngay lý gian" hoặc bị ép buộc tham gia vào các hoạt động phi pháp tại chỗ.
· Vai trò: Công cụ kiểm soát địa lý trong tư pháp phục hồi
+ Cụ thể hóa việc giám sát tại cộng đồng: Biện pháp này cung cấp một thước đo rõ ràng cho các cơ quan chức năng (Công an, chính quyền địa phương) và gia đình. Việc xác định người chưa thành niên có vi phạm hay không trở nên dễ dàng hơn: chỉ cần xuất hiện tại địa điểm bị cấm là đã vi phạm cam kết xử lý chuyển hướng.
+ Cơ chế bảo vệ từ xa: Đây là vai trò phòng ngừa chủ động. Thay vì đợi hành vi phạm tội xảy ra, pháp luật can thiệp bằng cách ngăn chặn sự tiếp cận của chủ thể đối với môi trường rủi ro cao. Nó đóng vai trò như một "hàng rào bảo vệ" giúp người chưa thành niên không bước vào những khu vực có thể khiến quá trình trị liệu hoặc giáo dục bị đổ bể.
+ Phân tầng mức độ can thiệp: Tùy theo tính chất hành vi vi phạm, cơ quan tố tụng có thể chỉ định danh mục địa điểm bị cấm. Vai trò của nó rất linh hoạt: từ cấm một quán game cụ thể cho đến cấm một khu vực dân cư phức tạp
Tóm lại, biện pháp này có ý nghĩa vô cùng lớn thường đi liền với các tội danh liên quan đến Trật tự công cộng, Ma túy hoặc Tệ nạn xã hội. Nó giúp "giải độc" môi trường sống của người chưa thành niên mà không cần phải đưa các em vào các cơ sở giam giữ tập trung, từ đó bảo đảm đúng tinh thần "lợi ích tốt nhất" của Luật năm 2024.
2.3. Hạn chế khung giờ đi ra ngoài (Quản chế thời gian)
Căn cứ pháp lý: Điều 45 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Hạn chế khung giờ đi lại” cụ thể như sau:
“1. Hạn chế khung giờ đi lại là việc giới hạn người chưa thành niên phạm tội ra khỏi nhà vào khung giờ nhất định trong khoảng thời gian từ 18 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, trừ trường hợp cần thiết được người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng cho phép.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp hạn chế khung giờ đi lại là từ 03 tháng đến 06 tháng.”
· Phân tích chuyên sâu:
Đây là một dạng "giới nghiêm" cá nhân. Tội phạm học đã chứng minh rằng thời gian từ 21h00 đêm đến 05h00 sáng hôm sau là "khung giờ vàng" của các hành vi lệch chuẩn ở NCTN (đua xe trái phép, tụ tập gây rối, sử dụng chất kích thích). Còn về mặt tâm lý học tư pháp, vùng vỏ não trước trán (chịu trách nhiệm kiểm soát xung động) của NCTN chưa hoàn thiện. Trong môi trường bóng tối và áp lực nhóm vào ban đêm, khả năng tự kiểm soát này càng trở nên yếu ớt. Chính vì vậy việc hạn chế khung giờ đi ra ngoài không nhằm mục đích tước đoạt tự do, mà là thiết lập một "hệ thống kỷ luật cưỡng bách" để NCTN quay trở lại với nhịp sinh học lành mạnh. Khi các em bắt buộc phải có mặt tại nhà vào buổi tối, các em sẽ giảm bớt được sự tiếp xúc với các nhóm bạn xấu và các tụ điểm vui chơi phức tạp. Đồng thời biện pháp này còn đóng vai trò là một "bộ phanh" ngoại lực, thay thế cho khả năng tự kiểm soát chưa hoàn chỉnh của các em, giúp các em tránh xa các tình huống dễ dẫn đến hưng phấn quá đà và hành vi bốc đồng.
· Quy định pháp lý:
Cơ quan có thẩm quyền sẽ ấn định một khung giờ (ví dụ: từ 22h00 đêm đến 06h00 sáng hôm sau) mà người chưa thành niên bắt buộc phải có mặt tại nơi cư trú, trừ trường hợp cấp cứu hoặc có sự giám sát của cha mẹ. Biện pháp này vừa mang tính răn đe, vừa giúp thiết lập lại kỷ luật sinh hoạt cá nhân, đưa các em vào nề nếp.
Tình huống minh họa:
Nguyễn Văn A (14 tuổi) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, thường xuyên tụ tập cùng nhóm bạn "phượt đêm" bằng xe máy độ, có hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nặng. A có hoàn cảnh gia đình bố mẹ đi làm ca đêm, thiếu sự giám sát thường xuyên.
Áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng: Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp Hạn chế khung giờ đi ra ngoài đối với A trong thời gian 06 tháng.
Hướng xử lý:
+ Nội dung: Từ 21h00 đến 06h00 sáng hôm sau, A bắt buộc phải có mặt tại nơi cư trú.
+ Ngoại lệ: Trừ trường hợp có sự hộ tống của cha mẹ hoặc đi cấp cứu y tế.
+ Giám sát: > - Công an cấp xã phối hợp với Nhân viên công tác xã hội kiểm tra đột xuất (gọi điện thoại bàn hoặc kiểm tra trực tiếp tại nhà) 2-3 lần/tuần vào các khung giờ ngẫu nhiên sau 21h. Cha mẹ A có trách nhiệm ký xác nhận vào sổ nhật ký giám sát hàng tuần.
Kết quả thực tiễn: Giai đoạn đầu, A cảm thấy gò bó, khó chịu vì không được gặp bạn bè. Nhưng chỉ sau 3 tháng, do không đi đêm, A bắt đầu tham gia các hoạt động thể thao vào buổi chiều để xả năng lượng và đi ngủ sớm hơn. Mối quan hệ giữa A và bố mẹ cải thiện do có nhiều thời gian trò chuyện vào buổi tối trước khi bố mẹ đi làm ca. Nhóm bạn xấu thấy A không thể tham gia đi đêm cũng dần tự giải tán hoặc không lôi kéo A nữa.
· Vai trò của biện pháp trong hệ thống xử lý chuyển hướng
1. Củng cố quyền năng quản lý của gia đình:
Biện pháp này trao cho cha mẹ một "công cụ pháp lý" để yêu cầu con cái có mặt tại nhà. Thực tế, nhiều phụ huynh bất lực trong việc gọi con về vào ban đêm; lệnh quản chế của cơ quan tư pháp tạo ra một áp lực bắt buộc giúp gia đình tái lập quyền kiểm soát.
2. Hỗ trợ các biện pháp giáo dục khác:
Nếu NCTN đang thực hiện biện pháp "Tham gia chương trình tham vấn" hoặc "Học tập văn hóa", việc đảm bảo các em ngủ đủ giấc và ở nhà vào ban đêm là điều kiện tiên quyết để các em có đủ sức khỏe và tâm thế thực hiện tốt các hoạt động giáo dục vào ban ngày.
3. Công cụ giám sát ít tốn kém nhưng hiệu quả cao:
So với việc đưa vào trường giáo dưỡng, việc quản chế thời gian tại nhà giúp tiết kiệm ngân sách nhà nước, đồng thời không làm đứt gãy việc học tập hay các mối quan hệ tình cảm tích cực của NCTN.
----o0o----
3. Nhóm các biện pháp giáo dục, tham vấn tâm lý và phục vụ cộng đồng
Nếu các biện pháp răn đe và quản lý (tại Mục 2.1 và 2.2) chủ yếu tác động vào phần "ngọn" nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm tái diễn, thì nhóm biện pháp tại Mục 2.3 tập trung giải quyết phần "gốc" của vấn đề tội phạm ở người chưa thành niên. Điểm sáng rực rỡ của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 là đã nội luật hóa một cách sâu sắc nguyên tắc "bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên", coi các em là những cá nhân cần được chữa lành và giáo dục hơn là những tội phạm cần bị trừng trị.
3.1. Biện pháp Tham gia chương trình tham vấn, trị liệu tâm lý
Có thể nói Trong hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, Tham gia chương trình tham vấn, trị liệu tâm lý được đánh giá là biện pháp mang tính "khoa học" và "nhân văn" nhất. Nó không tập trung vào việc uốn nắn hành vi bằng nỗi sợ hãi hay sự quản chế, mà tập trung vào việc chữa lành từ bên trong.
· Cơ sở lý luận:
Căn cứ pháp lý: Điều 49 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý” cụ thể như sau:
“1. Điều trị hoặc tư vấn tâm lý là việc trị liệu, can thiệp y tế nhằm khắc phục những trở ngại về tinh thần, cảm xúc, tâm trạng, tình trạng sức khỏe là nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và tổ chức khác có chức năng điều trị hoặc tư vấn tâm lý được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn để trị liệu, can thiệp cho người chưa thành niên và phối hợp với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thi hành biện pháp này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia điều trị hoặc tư vấn tâm lý là không quá 01 năm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
Nghiên cứu thực tiễn cho thấy, một tỷ lệ không nhỏ người chưa thành niên phạm tội xuất phát từ những tổn thương tâm lý tuổi ấu thơ (bạo lực gia đình, thiếu vắng tình thương) hoặc các rối loạn hành vi chưa được chẩn đoán. Việc áp dụng hình phạt tù đối với nhóm đối tượng này không những không mang lại hiệu quả cải tạo mà còn làm trầm trọng thêm tình trạng tâm lý.
· Nội dung và cơ chế áp dụng:
Đây là một bước tiến vượt bậc tiệm cận với chuẩn mực tư pháp quốc tế. Quyết định áp dụng biện pháp này sẽ đưa các em vào các phiên tham vấn chuyên sâu với chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần. Quá trình trị liệu giúp các em nhận diện cảm xúc tiêu cực, kiểm soát cơn giận dữ và xây dựng lại hệ giá trị bản thân.
· Ý nghĩa: Giải quyết "căn nguyên" của hành vi lệch chuẩn
Tội phạm học hiện đại chỉ ra rằng, hành vi phạm tội của người chưa thành niên (NCTN) thường là "phần nổi của tảng băng chìm". Bên dưới đó là những bất ổn về tâm lý chưa được giải tỏa.
+ Trị liệu tâm lý là sự cứu chuộc nhân cách: Nhiều NCTN phạm tội xuất phát từ những sang chấn tuổi thơ, bạo lực gia đình, hoặc các rối loạn cảm xúc (trầm cảm, tăng động giảm chú ý - ADHD). Việc bắt các em đi tù mà không trị liệu chỉ làm trầm trọng thêm các vết thương này. Biện pháp tham vấn giúp các em nhận diện "nút thắt" tâm lý, từ đó tự điều chỉnh hành vi một cách tự nguyện.
+ Giá trị nhân đạo tối cao: Biện pháp này xem NCTN là "nạn nhân của hoàn cảnh" hơn là "kẻ thủ ác". Ý nghĩa của nó nằm ở việc bảo vệ quyền được phát triển lành mạnh về sức khỏe tâm thần – một khía cạnh thường bị bỏ quên trong các quy trình tư pháp truyền thống.
+ Xóa bỏ mặc cảm và sự tự ti: Qua các buổi tham vấn, NCTN hiểu được rằng sai lầm của mình có thể sửa chữa được. Điều này giúp các em xây dựng lại lòng tự trọng, vốn là "hệ miễn dịch" quan trọng nhất để chống lại các cám dỗ sau này.
· Vai trò: Công cụ phục hồi nhân cách bền vững
Trong quy trình xử lý chuyển hướng, biện pháp này đóng vai trò là "mắt xích" kỹ thuật chuyên môn cao:
+ Vai trò dự báo và phòng ngừa tái phạm: Trị liệu tâm lý giúp NCTN hình thành các kỹ năng ứng phó (coping skills) trước các tình huống xung đột. Thay vì giải quyết vấn đề bằng bạo lực, các em được học cách kiểm soát cơn giận và giải quyết mâu thuẫn bằng đối thoại. Đây chính là cách phòng ngừa tái phạm bền vững nhất.
+ Vai trò hỗ trợ cho các biện pháp khác: Một NCTN đang bị "Cấm đến những địa điểm nhất định" hay "Hạn chế khung giờ đi ra ngoài" sẽ dễ dàng tuân thủ hơn nếu họ được tham vấn tâm lý để hiểu tại sao những hạn chế đó lại cần thiết cho họ. Trị liệu tâm lý tạo ra "sức đề kháng" bên trong để các biện pháp quản lý bên ngoài phát huy hiệu quả.
+ Cầu nối tái hòa nhập xã hội: Biện pháp này chuẩn bị một "tâm thế khỏe mạnh" cho NCTN trước khi trở lại trường học hoặc môi trường lao động. Nó giúp cộng đồng có cái nhìn bao dung hơn khi thấy NCTN đang nỗ lực điều trị và thay đổi dưới sự giám sát của các chuyên gia.
Tình huống minh họa:
Khánh - một em học sinh 15 tuổi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, sống cùng ông bà già yếu là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định,. Do điều kiện gia đình không được đầy đủ như các bạn đồng trang lứa, sau mỗi giờ học Khánh thường bị các bạn cùng lớp trêu trọc, bắt nạt trong thời gian dài (bạo lực học đường). Trong 1 lần phản kháng, Khánh đã có hành vi cố ý gây thương tích nhẹ cho bạn học. Nhận thấy, nếu chỉ khiển trách hay bồi thường, em có thể vẫn mang tâm lý uất ức và có thể tái phạm nặng hơn để "trả thù" vì vậy cơ quan tố tụng quyết định áp dụng biện pháp xử lý cho Khánh tham gia chương trình trị liệu tâm lý 03 tháng.
Sau khoảng thời gian 03 tháng tham gia chương trình trị liệu cùng chuyên gia tâm lý, song hành bên cạnh cũng có sự hỗ trợ không nhỏ từ trợ giúp viên pháp lý, đã giúp em giải tỏa sự uất ức, dạy em học cách tự bảo vệ mình hợp pháp và kiểm soát cảm xúc tiêu cực.
Kết quả: Sau khi kết thúc chương trình, em không còn tư tưởng dùng bạo lực để giải quyết vấn đề, tâm lý em đã ổn định để quay lại trường học. Từ đó chứng minh được, việc áp dụng biện pháp tham gia chương trình tham vấn, trị liệu tâm lý chính là giá trị mà không một hình phạt nào có thể thay thế được.
· Nhận diện thách thức:
Việc thực thi biện pháp này trên thực tế đòi hỏi một hệ thống hạ tầng y tế - xã hội đồng bộ. Chìa khóa thành công nằm ở việc phát triển đội ngũ nhân viên công tác xã hội và chuyên gia tâm lý học đường tại cơ sở – những người trực tiếp "cầm tay chỉ việc" và đồng hành cùng các em.
3.2. Biện pháp Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng
· Cơ sở lý luận:
Căn cứ pháp lý: Điều 50 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng” cụ thể như sau:
“1. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là thực hiện công việc trực tiếp phục vụ cho lợi ích của cộng đồng nơi người chưa thành niên phạm tội cư trú, bao gồm:
a) Tham gia trồng, chăm sóc cây xanh ở khu vực công cộng; sửa chữa, làm sạch đường làng, ngõ xóm, đường phố, ngõ phố, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng hoặc công trình công cộng khác;
b) Tham gia công việc khác nhằm cải thiện môi trường sống và cảnh quan của cộng đồng;
c) Tham gia hỗ trợ giúp đỡ người cao tuổi, người khuyết tật, người có hoàn cảnh đặc biệt hoặc các hoạt động tình nguyện khác nhằm tăng cường ý thức, trách nhiệm, sự gắn kết, chia sẻ với cộng đồng.
2. Tổng thời gian thực hiện biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là từ 20 giờ đến 80 giờ. Việc thực hiện công việc phục vụ cộng đồng không được quá 04 giờ trong 01 ngày, không được quá 05 ngày trong 01 tuần, không được thực hiện vào thời gian từ 20 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
3. Việc tổ chức thi hành biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng phải bảo đảm an toàn, tránh bị kỳ thị và ảnh hưởng đến việc học tập của người chưa thành niên.
4. Thời hạn áp dụng biện pháp thực hiện công việc phục vụ cộng đồng là không quá 03 tháng.”
Được xây dựng trên triết lý "lấy công chuộc tội", biện pháp này trao cơ hội để người chưa thành niên dùng sức lao động của mình bù đắp lại những tổn hại vô hình đã gây ra cho trật tự xã hội. Nó chuyển hóa năng lượng dư thừa và sự xốc nổi của tuổi trẻ vào những hoạt động có ích.
· Quy định pháp lý:
Luật quy định rõ các công việc này phải phù hợp với độ tuổi, thể trạng và không ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Thời gian thực hiện được giới hạn chặt chẽ (không quá số giờ quy định mỗi ngày/tuần) nhằm bảo đảm đây là một biện pháp giáo dục, tuyệt đối không biến tướng thành lao động cưỡng bức.
· Tác động xã hội:
Khi tham gia phục vụ cộng đồng, người chưa thành niên sẽ học được sự thấu cảm, lòng biết ơn và nhận được sự bao dung, ghi nhận từ chính những người dân xung quanh, qua đó xóa bỏ rào cản mặc cảm khi tái hòa nhập.
Tình huống minh họa:
Em Trần V (14 tuổi 6 tháng) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, đang là học sinh lớp 11. Do thiếu hiểu biết và muốn "thể hiện bản thân", sau giờ tan học V rủ nhóm bạn tới xem mình “biểu diễn”, đã dùng sơn xịt vẽ bậy (graffiti) lên các bức tường của một khu di tích lịch sử và các ghế đá công viên tại địa phương. Ngay sau đó V cùng các bạn bị cơ quan chức năng phát hiện và xác định tuy là lần đầu vi phạm nhưng hành vi của V gây thiệt hại về thẩm mỹ và chi phí khắc phục ước tính khoảng 15 triệu đồng. Trong quá trình làm việc, V tỏ thái độ hối lỗi, gia đình đã tự nguyện nộp tiền để cơ quan quản lý sơn lại các mảng tường bị hư hại.
Theo Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, cơ quan có thẩm quyền xét thấy V đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng "Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng" vì tính chất hành vi trong trường hợp này được xác định là Tội phạm ít nghiêm trọng (cố ý làm hư hỏng tài sản). Đồng thời, thông qua sự hỗ trợ nhiệt tình của Trợ giúp viên pháp lý, thái độ của V đã thành khẩn và nhanh chóng khắc phục hậu quả về vật chất, em và người đại diện hợp pháp đồng ý thực hiện biện pháp này thay vì truy cứu trách nhiệm hình sự.
Quyết định áp dụng biện pháp sẽ nêu rõ các chi tiết thực hiện cụ thể:
· Loại công việc: Tham gia làm vệ sinh môi trường, xóa các vết vẽ bậy tại khu vực công viên và chăm sóc cây xanh tại khu di tích nơi V đã vi phạm.
· Thời lượng: 60 giờ làm việc (phù hợp với quy định không quá 300 giờ đối với người từ 16 đến dưới 18 tuổi).
· Thời gian thực hiện: Không quá 04 giờ/ngày và chỉ thực hiện vào các ngày cuối tuần hoặc ngoài giờ học để không ảnh hưởng đến việc đến trường của V.
· Cơ quan giám sát: Ủy ban nhân dân cấp xã nơi V cư trú và tổ chức đoàn thanh niên địa phương.
Tóm lại, việc để V trực tiếp tham gia dọn dẹp, xóa bỏ những vết vẽ bậy do chính mình hoặc người khác gây ra giúp V hiểu được sự vất vả của những người lao động công ích và giá trị của cảnh quan công cộng. Thay vì bị tách biệt em ra khỏi xã hội bằng các hình phạt giam giữ, việc cho V đóng góp sức lao động để "trả nợ" cho cộng đồng, từ đó dễ dàng được cộng đồng tha thứ và đón nhận trở lại. Biện pháp này nêu cao tính giáo dục, giúp chuyển hóa nhận thức cho V từ việc phá hoại sang việc bảo vệ và xây dựng.
3.3. Biện pháp Tham gia chương trình giáo dục pháp luật, kỹ năng sống
· Cơ sở lý luận:
Căn cứ pháp lý: Điều 48 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Tham gia chương trình học tập, dạy nghề” cụ thể như sau:
“1. Tham gia chương trình học tập, dạy nghề là việc người chưa thành niên phạm tội phải học tập về pháp luật, đạo đức, nghĩa vụ công dân, kỹ năng ứng xử, kỹ năng sống hoặc học nghề.
2. Cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn có trách nhiệm đào tạo, giáo dục người chưa thành niên và phối hợp với người trực tiếp giám sát thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thi hành biện pháp này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp tham gia chương trình học tập, dạy nghề là không quá 01 năm.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
Sự thiếu hụt kiến thức pháp luật cơ bản và kỹ năng giải quyết xung đột là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những vụ án đau lòng xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt. Phương châm "phòng bệnh hơn chữa bệnh" được thể hiện rõ nét qua biện pháp này.
· Nội dung và cơ chế áp dụng:
Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ chỉ định các em tham gia các khóa học bắt buộc. Nội dung giảng dạy không khô khan, giáo điều mà được thiết kế chuyên biệt, tập trung vào kỹ năng phòng chống bạo lực, kỹ năng từ chối cám dỗ (ma túy, tệ nạn) và nhận thức về quyền, nghĩa vụ công dân. Việc tổ chức các lớp học này có thể giao cho Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương chủ trì.
Tình huống minh họa
Lê Văn C (14 tuổi), là học sinh lớp 8 - đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định. Do mâu thuẫn cá nhân trên mạng xã hội, C đã tham gia vào một nhóm chat kín để cùng các bạn khác cắt ghép hình ảnh nhạy cảm, viết bài xúc phạm danh dự và nhân phẩm của một bạn cùng lớp (bắt nạt trực tuyến - cyberbullying). Hành vi này khiến nạn nhân rơi vào trạng thái hoảng loạn và không dám đến trường. Sau đó C bị phát hiện sau khi nhà trường và phụ huynh nạn nhân can thiệp.Biết rằng đây là lần đầu C vi phạm, C đã ý thức được việc làm của mình là sai trái, vô cùng hối lỗi và thực hiện gỡ bỏ toàn bộ thông tin sai lệch trên trang mạng đã đăng. Sau khi tiến hành làm việc và cân nhắc xem xét, cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp “Tham gia chương trình giáo dục pháp luật, kỹ năng sống” thay vì xử lý hành chính hoặc hình sự, vì nhận thấy C vi phạm do nhận thức lệch lạc về quyền tự do ngôn luận và thiếu kỹ năng sử dụng mạng xã hội an toàn. Biện pháp này yêu cầu C thực hiện cụ thể như sau:
+ Về thời lượng: Tham gia chương trình trong vòng 06 tháng.
+ Về nội dung chuyên đề giáo dục pháp luật cho C: Học về Luật An ninh mạng và các quy định về bảo vệ danh dự, nhân phẩm con người. Tìm hiểu về hậu quả pháp lý của hành vi xúc phạm người khác trên không gian mạng.
+ Về nội dung chuyên đề kỹ năng sống cho C: Học kỹ năng kiểm soát cảm xúc (cách xử lý khi có mâu thuẫn thay vì công kích người khác), kỹ năng sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm (nhận diện tin giả, bảo vệ quyền riêng tư), học hỏi sự thấu cảm (cho C gặp gỡ chuyên gia tâm lý để hiểu về những tổn thương mà nạn nhân phải chịu đựng).
+ Cụ thể về hình thức: yêu cầu C tham gia các lớp học vào chiều Thứ Bảy hàng tuần tại Trung tâm sinh hoạt thanh thiếu niên hoặc các buổi tham vấn tâm lý do người làm công tác xã hội tổ chức. Bên cạnh là sự phối hợp của nhà trường tạo điều kiện cho C tham gia, đồng thời giáo viên chủ nhiệm sẽ theo dõi sự thay đổi thái độ của C trong lớp học. Cuối chương trình, yêu cầu C phải viết một bài thu hoạch chia sẻ về những gì đã học được và cam kết về hành vi trong tương lai.
Biện pháp này mang lại giá trị nhân văn cao, tập trung vào việc "sửa chữa từ gốc rễ" thay vì chỉ trừng phạt. Giúp C hiểu rằng hành vi của mình gây ra trên mạng nhưng mang lại hệ lụy ngoài đời thực. Đồng thời trang bị cho C "vắc-xin" kỹ năng để không tái phạm trong môi trường số vốn phức tạp. Sau cùng là giúp việc hòa nhập lại của C diễn ra tự nhiên, không bị bạn bè xa lánh như khi bị xử lý kỷ luật nặng.
3.4. Biện pháp Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
· Cơ sở lý luận:
Căn cứ pháp lý: Điều 43 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Giáo dục tại xã, phường, thị trấn” cụ thể như sau:
“1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là việc buộc người chưa thành niên phạm tội phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú về việc tuân thủ pháp luật, thực hiện nghĩa vụ công dân, chấp hành nội quy, quy chế của nơi cư trú, nơi học tập, nơi làm việc.
2. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm a khoản 2 Điều 51 của Luật này;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 37 và phạm một trong các tội quy định tại điểm b khoản 2 Điều 51 của Luật này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và thực hiện nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này là từ 06 tháng đến 02 năm.
Điều 44. Quản thúc tại gia đình.”
Môi trường vi mô (gia đình, khu dân cư) là nơi hình thành nên nhân cách con người. Chuyển hướng xử lý về cơ sở chính là việc phát huy sức mạnh của thế trận lòng dân, lấy sự gắn kết của "Gia đình - Nhà trường - Xã hội" làm vòng kim cô bảo vệ trẻ em.
· Sự chuyển mình của pháp luật:
Khác với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mang tính chất xử lý vi phạm hành chính trước đây, trong khuôn khổ Luật năm 2024, biện pháp này được cá thể hóa cao độ. Mỗi cá nhân sẽ có một nhân viên công tác xã hội hoặc người được phân công trực tiếp theo dõi, kèm cặp, lập kế hoạch giáo dục riêng biệt và định kỳ báo cáo sự tiến bộ với cơ quan có thẩm quyền.
Tình huống minh họa:
Nguyễn Văn C (15 tuổi) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định, đã bỏ học và hiện đang làm lao động tự do. Do mâu thuẫn bộc phát trên mạng xã hội, C cùng một nhóm bạn đã tìm gặp và xảy ra xô xát với một thanh niên khác. C đã dùng hung khí gây thương tích cho nạn nhân với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% (Tội cố ý gây thương tích – Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Đặc điểm nhân thân: Đây là lần đầu C thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. C có nơi cư trú rõ ràng, bố mẹ em C cam kết phối hợp chặt chẽ với địa phương để giáo dục. Sau sự việc, C rất hối hận nên đã cùng gia đình đến xin lỗi và bồi thường toàn bộ chi phí điều trị cho nạn nhân. Phía nạn nhân đồng ý rút đơn yêu cầu khởi tố và ủng hộ việc áp dụng biện pháp giáo dục tại địa phương.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp Giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với C với thời hạn là 09 tháng.
Theo đó, trong thời gian 09 tháng này, các bên liên quan sẽ thực hiện các vai trò cụ thể như: Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi C cư trú có trách nhiệm chủ trì, phân công, phối hợp người trực tiếp giám sát, giáo dục cho C (công an xã, Đoàn thanh niên, người làm công tác xã hội…)
Các yêu cầu về nghĩa vụ đối với C:
+ C phải viết bản cam kết và báo cáo định kỳ (hàng tháng) về tình hình học tập, lao động của mình cho người trực tiếp giám sát. Đồng thời yêu cầu C không được đi khỏi nơi cư trú nếu không có sự đồng ý của người giám sát (hoặc phải xin phép khi đi khỏi địa phương quá một thời gian nhất định).
+ Trong quá trình tham gia chương trình giáo dục, C bắt buộc phải tham gia các buổi tuyên truyền pháp luật và lớp kỹ năng kiểm soát cảm xúc do Đoàn thanh niên tổ chức.
+ Theo yêu cầu của cơ quan chức năng, C phải đăng ký tham gia một lớp học nghề tại trung tâm giáo dục nghề nghiệp địa phương để ổn định tương lai.
Phân tích: So với việc phải vào trường giáo dưỡng hoặc chịu án tù treo, biện pháp giáo dục ngay tại xã, phường nơi C cứ trú này giúp em không bị tách rời khỏi gia đình, bởi sự giáo dục từ cha mẹ trong giai đoạn này là quan trọng nhất để ổn định tâm lý cho C. Biện pháp này còn có sự kết hợp giữa quyền lực nhà nước (Công an, UBND) và sự hỗ trợ xã hội (Người làm công tác xã hội, Đoàn thanh niên) giúp phòng ngừa tái phạm hiệu quả. Điều quan trọng cuối cùng, đó là giúp C tránh "vết đen" pháp lý, nếu hoàn thành tốt thời hạn giáo dục, C sẽ được coi là chưa bị xử lý hình sự, giúp em dễ dàng xin việc làm sau khi học nghề xong.
4. Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng - Biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống xử lý chuyển hướng
Căn cứ pháp lý: Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định về “Giáo dục tại trường giáo dưỡng” cụ thể như sau:
“1. Giáo dục tại trường giáo dưỡng là việc buộc người chưa thành niên phạm tội học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục trong một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ theo quy định của pháp luật.
2. Giáo dục tại trường giáo dưỡng có thể được áp dụng đối với một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội mua bán người, Tội mua bán người dưới 16 tuổi, Tội cướp tài sản, Tội cướp giật tài sản, Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, Tội mua bán trái phép chất ma túy, Tội chiếm đoạt chất ma túy, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau đây: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, Tội cướp giật tài sản, trừ trường hợp người chưa thành niên là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án;
c) Các trường hợp khác cần phải áp dụng, do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người chưa thành niên phạm tội;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là từ 06 tháng đến 02 năm.”
Trong hệ thống 12 biện pháp, “Giáo dục tại trường giáo dưỡng” được coi là biện pháp "cuối cùng" (Ultima Ratio) trước khi một người chưa thành niên phải đối mặt với các hình phạt tù. Đây là biện pháp duy nhất có tính chất cách ly người chưa thành niên khỏi môi trường sống bình thường nhưng vẫn giữ được bản chất của xử lý chuyển hướng là giáo dục và phục hồi.
· Tính chất và mục đích:
Khác với việc chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trường giáo dưỡng là môi trường mang tính giáo dục đặc thù. Tại đây, mục tiêu tối thượng không phải là tước đoạt tự do để trừng phạt, mà là để thiết lập một chế độ sinh hoạt, học tập văn hóa và đào tạo nghề nghiệp tập trung, giúp những người có hành vi lệch chuẩn nghiêm trọng có điều kiện để "tĩnh tâm" và định hướng lại tương lai.
· Điều kiện áp dụng khắt khe:
Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 quy định chỉ áp dụng biện pháp này khi các biện pháp quản lý tại cộng đồng không đủ sức răn đe, hoặc tính chất hành vi vi phạm đạt đến ngưỡng cần sự can thiệp tập trung của Nhà nước. Điều này thể hiện sự thận trọng và tôn trọng quyền tự do cá nhân tối đa của người chưa thành niên.
· Điểm mới trong quản lý:
Luật nhấn mạnh việc duy trì mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình. Quá trình giáo dục không được phép cắt đứt sợi dây tình cảm, bởi đó chính là động lực lớn nhất để các em sớm hoàn thiện quá trình cải tạo để trở về.
Tình huống minh họa:
Nguyễn Văn C (15 tuổi) là đối tượng được trợ giúp pháp lý theo quy định. C có hoàn cảnh gia đình đặc biệt: bố mẹ ly hôn, bỏ đi xa, C sống với bà ngoại đã già yếu nên thiếu sự quản lý. Từ năm 13 tuổi, C đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng không tiến bộ. Lần này, C tham gia cùng một nhóm đối tượng lớn tuổi thực hiện hành vi Cướp giật tài sản (giật điện thoại của người đi đường). Hành vi của C được xác định là tội phạm rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, xét thấy C phạm tội do bị lôi kéo, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự (ngoài các lần xử lý hành chính) và hiện không có môi trường gia đình an toàn để giáo dục.
Cơ quan có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng vì các lý do:
+ Xét về tính chất hành vi: Hành vi phạm tội rất nghiêm trọng nhưng người chưa thành niên có nhiều tình tiết giảm nhẹ.
+ Xét về môi trường sống: Gia đình không đủ điều kiện quản lý, giáo dục C; biện pháp giáo dục tại cộng đồng trước đó không hiệu quả.
+ Xét về mục tiêu: Cần một môi trường nội trú có kỷ luật nghiêm và sự can thiệp chuyên sâu về tâm lý, hướng nghiệp để tách C khỏi nhóm bạn xấu.
Cụ thể chi tiết khi thi hành:
+ Thời hạn áp dụng: Quyết định của Tòa án ấn định thời gian C phải chấp hành tại trường giáo dưỡng là 18 tháng (khung quy định thường từ 06 đến 24 tháng).
+ Nội dung giáo dục: Học văn hóa (C tiếp tục được học chương trình phổ thông theo độ tuổi); Học nghề (trường tổ chức cho C học các nghề phù hợp như sửa chữa điện dân dụng hoặc nghề mộc để có sinh kế sau này); Giáo dục pháp luật và đạo đức (các chuyên gia tâm lý và cán bộ giáo dưỡng thực hiện các buổi trị liệu nhóm, giúp C nhận thức lại giá trị đạo đức và tôn trọng pháp luật); Giám sát và đánh giá (định kỳ 03 tháng/lần, trường giáo dưỡng đánh giá sự tiến bộ của C. Nếu C cải tạo tốt, có thể được xét rút ngắn thời hạn chấp hành).
Phân tích: Tuy là biện pháp nghiêm khắc nhất trong 12 Biện pháp xử lý chuyển hướng, nhưng biện pháp này khác với việc chấp hành án tù tại trại giam vì mục tiêu của biện pháp này hướng tới là nêu cao vai trò tính nhân văn. Việc tách biệt hoàn toàn người chưa thành niên khỏi môi trường tội phạm của người lớn, nhưng không làm ảnh hưởng quá nặng nề đến tâm lý của C. Trong thời gian thi hành Quyết định của Tòa án, C vừa có thể học thêm được một nghề phù hợp với bản thân, vừa có thể rèn luyện thể chất, tinh thần và ý thức được giá trị của mình trong cuộc sống. Mục tiêu cuối cùng là khi hết thời hạn thực thi, C có bằng nghề và tư duy tích cực để trở về cộng đồng, giảm thiểu tối đa nguy cơ tái phạm.
5. Điều kiện áp dụng và các nguyên tắc cơ bản trong quy trình chuyển hướng
Để 12 biện pháp xử lý chuyển hướng không chỉ dừng lại trên trang giấy, Luật năm 2024 đã thiết lập một "hệ sinh thái" thực thi với những điều kiện và nhân sự chuyên biệt. Cụ thể, Luật tư pháp cho người chưa thành niên 2024 đã lấy 16 nguyên tắc nhân văn làm nền móng cơ bản trong quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo tính nhân văn, tiến bộ và đặc thù để bảo vệ người chưa thành niên trong tư pháp hình sự. Các nguyên tắc này được quy định cụ thể từ Điều 5 đến Điều 20 bao gồm:
(16 nguyên tắc cơ bản trong quá trình tố tụng đảm bảo nhân văn, tiến bộ và đặc thù để bảo vệ người chưa thành niên trong tư pháp hình sự. Ảnh: Sưu tầm)
Một trong những điều kiện tiên quyết để áp dụng xử lý chuyển hướng là sự đồng ý của chính người chưa thành niên và người đại diện hợp pháp của các em. Đây là điểm tiến bộ vượt bậc, khẳng định quyền tự quyết và trách nhiệm cá nhân. Khi các em tự nguyện lựa chọn chuyển hướng thay vì xét xử hình sự, các em đã bước đầu xác lập cam kết tuân thủ các điều kiện giáo dục đi kèm. Song hành bên cạnh còn có nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện. Nguyên tắc này cần được đảm bảo yếu tố thân thiện từ khâu nhận tin báo, khởi tố, điều tra, truy tố đến khâu xét xử. Tòa án xét xử bị cáo là người chưa thành niên tại phòng xử án thân thiện. Vị trí của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa trong phòng xử án được bố trí trên cùng một mặt phẳng. Người chưa thành niên là bị cáo tham gia tố tụng tại phiên tòa được ngồi cạnh người bào chữa, người đại diện của họ. Phiên tòa phải được tổ chức xét xử thân thiện, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên. Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa mặc trang phục hành chính của Tòa án; Kiểm sát viên mặc trang phục phù hợp, không mặc trang phục Kiểm sát nhân dân. Khi xét xử không còng tay hoặc áp dụng các biện pháp mang tính cưỡng chế khác, trừ trường hợp người chưa thành niên có biểu hiện chống đối, gây mất trật tự tại phiên tòa hoặc hành động tiêu cực khác. Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phải bảo đảm đơn giản, thân thiện, phù hợp với tâm lý, lứa tuổi, mức độ trưởng thành và khả năng nhận thức của người chưa thành niên.
Bên cạnh đó, nguyên tắc áp dụng hình phạt cũng cần nhiều lưu ý: Hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ ý thức tôn trọng, tuân theo pháp luật và các chuẩn mực đạo đức, lối sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới, có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Trường hợp phải áp dụng hình phạt thì ưu tiên áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.
Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm đó là cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; tù có thời hạn; không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội.
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
6. Vai trò trung tâm của Nhân viên công tác xã hội
Nếu như trước đây, quy trình tố tụng chỉ có sự xuất hiện của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Luật sư, thì Luật năm 2024 đã chính thức hóa vai trò của Nhân viên công tác xã hội. Trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên, Nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) không chỉ là người hỗ trợ mà đóng vai trò là "mắt xích" trung tâm, kết nối giữa khía cạnh pháp lý và khía cạnh nhân văn. Vai trò của họ xuyên suốt từ giai đoạn tiếp nhận vụ việc cho đến khi người chưa thành niên tái hòa nhập cộng đồng.
· Vai trò là "Cầu nối" thông tin (Báo cáo điều tra xã hội)
NV CTXH là người duy nhất có chức năng xây dựng Báo cáo điều tra xã hội. Đây là tài liệu vô cùng quan trọng giúp Thẩm phán và Kiểm sát viên hiểu được "phần chìm của tảng băng" như: Phân tích hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, tâm lý và những sang chấn (nếu có) dẫn đến hành vi vi phạm. Bên cạnh đó còn đánh giá nhu cầu, xác định người chưa thành niên cần được giáo dục, trị liệu hay hỗ trợ như thế nào để không tái phạm. Từ đó đề xuất biện pháp dựa trên dữ liệu thực tế để kiến nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng phù hợp (như Khiển trách, Giáo dục tại trường giáo dưỡng…).
· Vai trò là "Người bảo vệ" quyền lợi trong tố tụng
Khác với Luật sư (tập trung vào pháp lý), NV CTXH tập trung vào tâm lý và quyền lợi tốt nhất của trẻ em. Họ giúp hỗ trợ tâm lý cho trẻ, có mặt trong các buổi lấy lời khai, hỏi cung để đảm bảo trẻ không bị áp lực, hoảng sợ hoặc bị xâm phạm danh dự. Đồng thời xử lý linh hoạt, giải thích pháp luật, chuyển ngữ các thuật ngữ pháp lý khô khan thành ngôn ngữ dễ hiểu để trẻ nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình. Không chỉ thế, họ còn đóng vai trò là người giám sát quy trình nhằm đảm bảo các cơ quan tố tụng trong quá trình công tác thực hiện đúng nguyên tắc "nhân văn" và "ưu tiên xử lý chuyển hướng".
· Vai trò là "Người điều phối" trong thi hành biện pháp xử lý chuyển hướng
Khi một biện pháp xử lý chuyển hướng được áp dụng, NV CTXH trở thành người quản lý xây dựng kế hoạch cá nhân cho NCTN lầm lỡ, thiết kế lộ trình giáo dục riêng biệt cho từng trường hợp. Trong và sau thời gian thi hành biện pháp xử lý chuyển hướng, họ sẽ là người đóng vai trò liên kết chặt chẽ mối quan hệ với nhà trường để trẻ quay lại học/tái hòa nhập cộng đồng dễ dàng hơn; kết nối với doanh nghiệp, tạo cơ hội cho NCTN lầm lỡ có cơ hội học nghề, hoặc các trung tâm y tế để trị liệu tâm lý. Bên cạnh đó còn đóng vai trò song hành giám sát thực thi: Theo dõi tiến độ, đánh giá sự thay đổi thái độ của trẻ và báo cáo kịp thời cho cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh biện pháp nếu cần.
· Vai trò là "Người thúc đẩy" tái hòa nhập cộng đồng
Đây là giai đoạn quan trọng nhất để ngăn ngừa NCTN tái phạm, vì vậy công tác giúp cộng đồng xung quanh xóa bỏ kỳ thị đối với NCTN lầm lỡ là vô cùng thiết thực, cụ thể như: Làm việc với cộng đồng, hàng xóm và nhà trường để tạo môi trường đón nhận, giúp trẻ không bị cô lập, trực tiếp hỗ trợ hòa giải giữa trẻ và gia đình, hoặc giữa trẻ và bị hại (trong tư pháp phục hồi).
Tóm lại:
Nếu Thẩm phán là người đưa ra phán quyết "đúng luật", thì NV CTXH là người đảm bảo phán quyết đó "có hậu" và có tính bền vững. Không có sự tham gia chuyên nghiệp của NV CTXH, các biện pháp xử lý chuyển hướng sẽ dễ trở nên hình thức và thiếu hiệu quả thực tế. Chính vì vậy, để đảm bảo tính chuyên nghiệp và hiệu quả trong việc hỗ trợ người chưa thành niên, một nhân viên công tác xã hội (NV CTXH) trong lĩnh vực tư pháp không chỉ cần lòng nhân ái mà phải hội đủ các tiêu chuẩn năng lực khắt khe như có kiến thức nền tảng am hiểu về: pháp luật, tâm lý học trẻ vị thành niên, tư pháp phục hồi…. Bên cạnh đó còn cần phải có kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu như: kỹ năng điều tra xã hội, kỹ năng quản lý, kỹ năng tham vấn và trị liệu tâm lý cơ bản,…Sau cùng, điều cốt lõi của một NV CTXH cần có đó chính là đạo đức và phẩm chất dựa trên nguyên tắc tạo ra lợi ích tốt nhất cho trẻ, tính bảo mật thông tin cao, có sự kiên nhẫn và không có định kiến (xem trẻ như một đối tượng để giáo dục và chữa lành), tính trung thực và khách quan (đảm bảo các báo cáo đánh giá không bị tác động bởi cảm xúc cá nhân hay ý kiến các bên liên quan).
7. Vai trò của Trợ giúp viên pháp lý
Trong quá trình tố tụng liên quan đến người chưa thành niên (trẻ em, người dưới 18 tuổi), Trợ giúp viên pháp lý (TGVPL) đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, mặc dù hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng mở ra cơ hội sửa sai, hướng thiện cho các em, nhưng để hệ thống này thực sự vận hành hiệu quả thì không thể thiếu vai trò của công tác trợ giúp pháp lý. Họ không chỉ là người bảo vệ về mặt pháp lý mà còn là điểm tựa tinh thần, giúp bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các em được tôn trọng tối đa theo nguyên tắc "tư pháp thân thiện".
· Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho trẻ
TGVPL tham gia tố tụng với tư cách là Người bào chữa (nếu trẻ là bị can, bị cáo, người bị buộc tội) hoặc Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (nếu trẻ là bị hại, người làm chứng hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan).
+ Đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật: TGVPL giúp tìm kiếm các tình tiết giảm nhẹ, bảo đảm các em được áp dụng chính sách nhân đạo, khoan hồng, hướng đến mục đích giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng hơn là trừng phạt. Đồng thời song hành bên cạnh như một người định hướng tâm lý, hướng dẫn, giải thích để các em hiểu được rõ trách nhiệm, ý thức được hành vi phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức, pháp luật quy định.
+ Đối với trẻ em với vai trò là người bị hại (như trong các vụ án bạo lực, xâm hại): TGVPL bảo đảm quyền lợi của các em không bị bỏ quên, hỗ trợ đòi bồi thường thiệt hại và ngăn chặn các hành vi xâm phạm tiếp theo.
· Giám sát việc tuân thủ thủ tục tố tụng đặc biệt
Pháp luật quy định một quy trình tố tụng riêng biệt và nghiêm ngặt đối với người dưới 18 tuổi. TGVPL có vai trò giám sát các cơ quan tiến hành tố tụng (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) nhằm bảo đảm:
+ Thời gian tạm giữ, tạm giam phải đúng quy định (chỉ áp dụng khi thật sự cần thiết).
+ Việc lấy lời khai phải có sự tham gia của người giám hộ, người đại diện hợp pháp hoặc người bào chữa.
+ Bảo mật thông tin: Giữ kín thông tin cá nhân, hình ảnh của các em để tránh ảnh hưởng đến tương lai sau này.
· Đồng hành và hỗ trợ tâm lý cho các em
Người chưa thành niên thường chưa hoàn thiện về mặt nhận thức và dễ bị khủng hoảng tâm lý khi đối mặt với môi trường pháp lý căng thẳng. Khi đó,TGVPL là người giải thích cho các em hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình bằng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, tránh cảm giác hoang mang, sợ hãi.
Sự có mặt của TGVPL trong các buổi lấy lời khai, đối chất giúp các em bình tĩnh hơn, ngăn ngừa nguy cơ bị ép cung, mớm cung hoặc bị tổn thương tâm lý lần thứ hai (đặc biệt là đối với nạn nhân bị xâm hại).
· Cầu nối giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan tố tụng
TGVPL phối hợp chặt chẽ với cha mẹ, người giám hộ, nhà trường và chính quyền địa phương để thu thập các thông tin về nhân thân, hoàn cảnh gia đình, lý do dẫn đến hành vi vi phạm. Từ đó, đưa ra đề xuất hướng xử lý phù hợp nhất, giúp các em có cơ hội sửa sai và tiếp tục học tập.
8. Vai trò của cơ quan tiến hành tố tụng và cộng đồng
Để bộ máy tư pháp người chưa thành niên vận hành hiệu quả, cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa hai nhóm chủ thể: Cơ quan tiến hành tố tụng (đóng vai trò định hướng và ra quyết định) và Cộng đồng (đóng vai trò là môi trường nuôi dưỡng và phục hồi).
· Cơ quan tiến hành tố tụng: Từ "Trừng phạt" sang "Bảo vệ"
Trong luật mới, vai trò của Công an, Viện kiểm sát và Tòa án đã chuyển dịch mạnh mẽ từ việc “chỉ tập trung vào tội danh” sang việc tập trung vào “con người” và “sự phát triển”.
+ Cơ quan Điều tra (Công an): Đóng vai trò "Sàng lọc": Bởi lẽ họ là đơn vị tiếp xúc đầu tiên, có nhiệm vụ đánh giá sơ bộ để đề xuất áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng ngay từ giai đoạn đầu, tránh để trẻ bị "nhúng" quá sâu vào quy trình tố tụng hình sự. Đồng thời tạo môi trường thân thiện khi thực hiện tố tụng đối với trẻ để đảm bảo việc lấy lời khai, tạm giữ phải diễn ra trong môi trường không gây áp lực, có sự tham gia của người giám hộ và nhân viên công tác xã hội.
+ Viện Kiểm sát: Đóng vai trò “Giám sát và Quyết định”, kiểm soát việc tuân thủ pháp luật để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ. Viện kiểm sát có quyền quyết định áp dụng xử lý chuyển hướng tại giai đoạn truy tố, giúp trẻ có cơ hội sửa sai mà không cần phải ra tòa.
+ Tòa án: Là đơn vị “cầm cân nảy mực”, giữ vai trò là “Trọng tài nhân văn”: Thẩm phán không chỉ là người tuyên án mà là người đưa ra giải pháp giáo dục. Các phiên tòa được thiết kế thân thiện (không mặc áo choàng, không ngồi bục cao cách biệt) để giảm bớt rào cản tâm lý cho người chưa thành niên.
· Cộng đồng: "Cánh tay nối dài" của công lý
Nếu các cơ quan tố tụng đưa ra phán quyết, thì cộng đồng chính là nơi thực thi phán quyết đó một cách hiệu quả nhất.
+ Chính quyền địa phương (UBND cấp xã): Là đơn vị trực tiếp quản lý, giám sát việc thực hiện các biện pháp tại cộng đồng (như Khiển trách, Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng). Hỗ trợ, tạo điều kiện để người chưa thành niên tiếp cận các dịch vụ công, hỗ trợ pháp lý và giáo dục tại địa phương.
+ Các tổ chức xã hội (Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ): đóng vai trò "Người đồng hành" khi phân công hội viên trực tiếp kèm cặp, giúp đỡ trẻ. Đây là những người gần gũi nhất, dễ dàng nắm bắt tâm tư và thay đổi hành vi của trẻ thông qua các hoạt động phong trào và thiện nguyện.
+ Nhà trường và Cơ sở giáo dục: Đảm bảo trẻ không bị gián đoạn việc học. Môi trường sư phạm lành mạnh giúp trẻ cảm thấy mình vẫn là một phần của xã hội, ngăn chặn sự tự ti và mặc cảm tội lỗi.
Một điểm mới trong tư pháp người chưa thành niên là việc nhấn mạnh vào sự đón nhận của cộng đồng. Nếu cộng đồng kỳ thị, xa lánh, trẻ sẽ dễ dàng rơi vào "vòng xoáy tái phạm". Do đó, vai trò của cộng đồng còn là việc thay đổi nhận thức: nhìn nhận hành vi vi phạm của trẻ như một sai lầm trong quá trình trưởng thành cần được uốn nắn, thay vì một vết nhơ vĩnh viễn.
Kết luận: Hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 là một bước tiến dài của nền tư pháp nước nhà. Nó phản ánh sự thay đổi tư duy từ "đối đầu" sang "đối thoại", từ "loại trừ" sang "bao dung". Việc hiểu rõ nội hàm và cách thức vận hành của từng biện pháp không chỉ giúp bài nghiên cứu đạt được chiều sâu khoa học mà còn là kim chỉ nam cho các hoạt động trợ giúp pháp lý, truyền thông pháp luật trong tương lai.
Bên cạnh đó, trong hệ thống 12 biện pháp xử lý chuyển hướng dành cho người chưa thành niên, trợ giúp pháp lý không đơn thuần là một công cụ hỗ trợ thủ tục mà đóng vai trò là "bộ lọc nhân văn" và lá chắn bảo vệ cốt lõi bảo đảm cho toàn bộ hệ thống này vận hành đúng hướng. Xử lý chuyển hướng bản chất là việc tìm kiếm các giải pháp giáo dục, cộng đồng thay thế cho các biện pháp hình sự cứng nhắc nhằm mở ra cơ hội làm lại cuộc đời cho người dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, do giới hạn về nhận thức, tâm lý và vị thế yếu thế, người chưa thành niên và gia đình các em thường lạc lõng, hoang mang trước các quyết định pháp lý phức tạp. Lúc này, trợ giúp pháp lý xuất hiện như một điểm tựa pháp lý và tinh thần vững chắc. Thông qua sự đồng hành của Trợ giúp viên pháp lý, các em được giải thích rõ ràng về quyền lợi, từ đó có cơ hội bày tỏ nguyện vọng và hợp tác tích cực. Quan trọng hơn, sự giám sát của cơ quan trợ giúp pháp lý bảo đảm rằng việc áp dụng bất kỳ biện pháp chuyển hướng nào trong số 12 biện pháp - dù là khiển trách, giáo dục tại xã, phường hay hòa giải tại cộng đồng - đều được thực hiện dựa trên nguyên tắc "vì lợi ích tốt nhất của trẻ em", hoàn toàn tự nguyện và không bị áp đặt hay lạm dụng quyền lực. Nói cách khác, nếu 12 biện pháp xử lý chuyển hướng là những nhịp cầu nhân đạo hướng thiện, thì trợ giúp pháp lý chính là nền móng giữ cho những nhịp cầu đó luôn vững chãi, công bằng, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật song hành vẹn nguyên cùng tính nhân văn sâu sắc.
IV. ĐÁNH GIÁ TÍNH ĐỘT PHÁ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC THỰC TIỄN TRONG VIỆC TRIỂN KHAI 12 BIỆN PHÁP XỬ LÝ CHUYỂN HƯỚNG
Bất kỳ một sự thay đổi mang tính cách mạng nào về chính sách pháp luật cũng đều đối mặt với những rào cản từ thực tiễn. Việc chuyển đổi từ hệ thống tư pháp tập trung vào trừng phạt sang hệ thống coi trọng xử lý chuyển hướng đòi hỏi sự đồng bộ về tư duy, nhân lực và nguồn lực tài chính.
Việc đặt lên bàn cân so sánh giữa quy định cũ (Bộ luật Hình sự 2015) và quy định mới (Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024) sẽ giúp chúng ta thấy rõ bước tiến khổng lồ từ tư duy "giảm nhẹ hình phạt" sang tư duy "trao cơ hội và phục hồi". Chi tiết cụ thể theo bảng so sánh:
Tiêu chí so sánh | Bộ luật Hình sự 2015 (Hiện hành) | Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 (Hiệu lực từ 01/01/2026) |
Số lượng biện pháp | 03 biện pháp chính. | 12 biện pháp đa dạng. |
Danh mục cụ thể | 1. Khiển trách. 2. Hòa giải tại cộng đồng. 3. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn. | 1. Khiển trách; 2. Xin lỗi người bị hại; 3. Bồi thường thiệt hại; 4. Cấm tiếp xúc với người có nguy cơ dẫn đến phạm tội; 5. Cấm đến địa điểm nhất định; 6. Hạn chế khung giờ đi ra ngoài; 7. Tham gia chương trình tham vấn, trị liệu tâm lý; 8. Thực hiện công việc phục vụ cộng đồng; 9. Tham gia chương trình giáo dục pháp luật, kỹ năng sống; 10. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 11. Giáo dục tại trường giáo dưỡng; 12. Tại ngoại điều tra có điều kiện. |
Đối tượng áp dụng | Chủ yếu là NCTN phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ và sự đồng ý của người bị hại. | Mở rộng đáng kể: Bao gồm cả NCTN phạm tội rất nghiêm trọng trong một số trường hợp cụ thể, ưu tiên tối đa việc không hình sự hóa. |
Thẩm quyền | Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án tùy theo giai đoạn tố tụng. | Mở rộng và làm rõ thẩm quyền: Tăng quyền chủ động cho Cơ quan điều tra ở giai đoạn sớm để tránh làm NCTN bị chấn thương tâm lý do tố tụng kéo dài. |
Thời hạn áp dụng | Thường cố định (ví dụ: Giáo dục tại xã phường từ 06 tháng đến 01 năm). | Linh hoạt: Tùy theo loại biện pháp (tính theo giờ cho công việc cộng đồng hoặc theo tháng cho các lộ trình trị liệu/giám sát). |
Vai trò chủ thể hỗ trợ | Gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương (mang tính phối hợp chung). | Nhân viên công tác xã hội có vai trò pháp lý bắt buộc trong việc đánh giá và giám sát lộ trình. |
1. Phân tích, đánh giá những điểm mới đột phá so với Bộ luật Hình sự 2015
1.1. Sự chuyển dịch tư duy từ "Trừng trị" sang "Phục hồi"
Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 không chỉ đơn thuần là sự thay đổi về câu chữ mà là một cuộc cách mạng về tư duy tư pháp. Việc quy định 12 biện pháp xử lý chuyển hướng (XLCH) thể hiện sự nội luật hóa sâu sắc triết lý Tư pháp phục hồi
Thay vì tập trung vào câu hỏi "Đối tượng đã phạm tội gì và phải chịu hình phạt nào?", Luật mới tập trung vào: "Đối tượng cần gì để sửa chữa lỗi lầm và làm thế nào để hàn gắn quan hệ với cộng đồng?". Điều này giúp giảm tỷ lệ tái phạm bằng cách giải quyết tận gốc nguyên nhân xã hội và tâm lý của hành vi phạm tội.
1.2. Tính đa dạng và phân tầng hóa biện pháp can thiệp
Hệ thống 12 biện pháp tạo ra một "thang bậc" can thiệp linh hoạt.
Sự phân tầng này cho phép cơ quan tiến hành tố tụng có nhiều lựa chọn "may đo" cho từng trường hợp cụ thể, đảm bảo rằng mức độ can thiệp luôn tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi và đặc điểm nhân thân của người chưa thành niên (NCTN).
1.3. Tiệm cận các chuẩn mực quốc tế (Công ước CRC và Quy tắc Bắc Kinh)
Việc mở rộng danh mục XLCH và ưu tiên áp dụng tại cộng đồng hoàn toàn tương thích với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (CRC) và Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về quản lý tư pháp NCTN (Quy tắc Bắc Kinh). Việt Nam đã thực hiện tốt cam kết quốc tế trong việc lấy "Lợi ích tốt nhất của NCTN" làm kim chỉ nam.
2. Những thách thức thực tiễn trong quá trình thực thi
2.1. Thách thức về nguồn nhân lực chuyên trách
Có thể nói, nhân viên Công tác xã hội là mắt xích quan trọng nhất nhưng cũng là thách thức lớn nhất.
Luật mới quy định vai trò bắt buộc của Nhân viên Công tác xã hội (CTXH) trong việc lập báo cáo điều tra xã hội và giám sát XLCH. Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ này tại các địa phương còn thiếu về số lượng và yếu về kỹ năng điều tra xã hội pháp đình. Việc chưa có chức danh nghề nghiệp rõ ràng và chế độ đãi ngộ tương xứng trong hệ thống tư pháp sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân sự khi Luật có hiệu lực từ 01/01/2026.
2.2. Sự thiếu hụt về cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ
· Sự thiếu hụt về cơ sở tham vấn, trị liệu:
Các biện pháp như "Trị liệu tâm lý" hay "Tham vấn kỹ năng" sẽ trở nên hình thức nếu thiếu các trung tâm chuyên trách. Hiện nay, các cơ sở dịch vụ xã hội đủ điều kiện thực hiện các chương trình này còn quá ít, chủ yếu tập trung ở đô thị lớn.
· Bất cập về hoàn cảnh trong mô hình Trường giáo dưỡng:
Việc chuyển đổi mô hình giáo dục tại trường giáo dưỡng để thoát ly khỏi "bóng dáng" của cơ sở giam giữ hình sự truyền thống đòi hỏi sự đầu tư lớn về cơ sở vật chất và chương trình giáo dục nghề nghiệp hiện đại.
2.3. Rào cản từ nhận thức xã hội và tâm lý "dán nhãn"
(Ảnh minh họa)
Mặc dù chế định về 12 biện pháp xử lý chuyển hướng mang tinh thần tiến bộ, đề cao tính nhân văn và triết lý công lý phục hồi, việc thực thi trên thực tế đang vấp phải một rào cản vô hình nhưng vô cùng kiên cố: nhận thức của cộng đồng và tâm lý "dán nhãn" đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật.
Thứ nhất, sự mâu thuẫn giữa "lý lịch tư pháp sạch" và "bản án từ miệng đời"
Mục tiêu cốt lõi của biện pháp xử lý chuyển hướng là tạo cơ hội để người chưa thành niên sửa sai, thay thế các hình phạt nghiêm khắc bằng việc giáo dục tại cộng đồng và đặc biệt là không để lại án tích. Tuy nhiên, định kiến xã hội lại thường tạo ra một "bản án" dai dẳng và khắt khe hơn nhiều so với các chế tài pháp lý. Sự kỳ thị từ khu dân cư, trường học, và đôi khi từ chính người thân khiến lỗi lầm trong quá khứ bị khuếch đại và gắn liền với nhân cách của các em. Những nhãn mác như "đứa trẻ hư", "kẻ trộm cắp", hay "tội phạm" vô hình trung tước đi cơ hội để các em chứng minh sự hối lỗi. Dù pháp luật đã mở đường để các em làm lại cuộc đời, nhưng chính thái độ thiếu bao dung của xã hội lại đóng sập cánh cửa tái hòa nhập thực sự.
Thứ hai, hệ lụy từ hiện tượng "lời tiên tri tự ứng nghiệm"
Tâm lý "dán nhãn" không chỉ gây ra áp lực từ bên ngoài mà còn tàn phá nội tâm của người chưa thành niên. Khi liên tục bị bao vây bởi sự nghi ngờ, từ chối tiếp nhận hoặc tước bỏ các cơ hội học tập và vui chơi, các em dễ rơi vào khủng hoảng, mất lòng tự trọng và niềm tin vào xã hội. Nguy hiểm hơn, sự kỳ thị này thường dẫn đến phản kháng tiêu cực: khi liên tục bị cộng đồng đối xử như một người xấu, các em có xu hướng buông xuôi và hành xử đúng như chiếc "nhãn mác" bị áp đặt. Cảm giác không thuộc về cộng đồng dễ dàng đẩy các em dạt ra lề xã hội, tìm sự đồng cảm ở những nhóm bạn có nguy cơ cao. Điều này làm gia tăng tỷ lệ tái phạm, đi ngược lại hoàn toàn với mục đích phục hồi và giáo dục của Luật.
Thứ ba, cản trở trực tiếp đến hiệu quả thi hành các biện pháp chuyển hướng tại cộng đồng
Quá trình thi hành các biện pháp như xin lỗi người bị hại, bồi thường thiệt hại, hay tham gia các chương trình tham vấn tâm lý đòi hỏi sự hợp tác, thấu hiểu rất lớn từ môi trường xung quanh. Sự thiếu hợp tác, thái độ e dè từ phía người bị hại hoặc sự soi xét của tổ dân phố gây ra áp lực tâm lý nặng nề cho các em. Điều này cũng đặt ra thách thức lớn đối với đội ngũ nhân viên công tác xã hội và cán bộ tư pháp cơ sở. Họ không chỉ phải thực hiện vai trò giáo dục, giám sát người vi phạm mà còn phải mất rất nhiều nỗ lực để "giải ảo" định kiến của cộng đồng. Nếu không thiết lập được một môi trường an toàn, có tính nâng đỡ, các biện pháp chuyển hướng sẽ khó phát huy tác dụng "chữa lành", dễ rơi vào tình trạng thực thi mang tính hình thức.
Tựu trung lại, tâm lý "dán nhãn" là một rào cản phi thể chế nhưng có sức tàn phá mạnh mẽ đến hiệu quả thực tiễn của các biện pháp xử lý chuyển hướng. Để đạo luật thực sự đi vào đời sống từ năm 2026, sự thay đổi không chỉ nằm ở hệ thống tư pháp, mà còn đòi hỏi một sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức, hướng tới sự thấu cảm và lòng dung thứ của toàn xã hội.
2.4. Cơ chế phối hợp liên ngành
Quy trình XLCH không thể thành công nếu chỉ dựa vào ngành Công an hay Tòa án, nó còn đòi hỏi sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng như: tư pháp, giáo dục, tài chính…. Hiện nay, cơ chế chia sẻ thông tin và kinh phí phối hợp giữa các bên vẫn còn lúng túng, chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm người đứng đầu khi việc phối hợp thất bại.
KẾT LUẬN
Trải qua quá trình nghiên cứu chuyên sâu về 12 biện pháp xử lý chuyển hướng trong Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024, có thể khẳng định rằng việc ban hành đạo luật này không chỉ là một nhiệm vụ lập pháp thuần túy, mà là một bước đi mang tính thời đại, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền con người và ưu tiên phát triển thế hệ tương lai. Bài nghiên cứu đã đi sâu phân tích từ lý luận đến thực tiễn, từ đó rút ra những kết luận quan trọng sau:
1. Khẳng định giá trị lịch sử và nhân văn của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024
Sự ra đời của Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 là một "cột mốc vàng" trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử pháp lý nước nhà, các quy định về tư pháp đối với người dưới 18 tuổi được tập hợp, hệ thống hóa và nâng tầm thành một đạo luật chuyên biệt, tách rời khỏi tư duy quản lý tội phạm chung của người trưởng thành.
Giá trị lớn nhất của Luật nằm ở chỗ nó đã "nhân văn hóa" hệ thống tư pháp hình sự. Việc quy định chi tiết 12 biện pháp xử lý chuyển hướng thay vì chỉ dừng lại ở các hình phạt truyền thống đã tạo ra một hành lang pháp lý rộng mở, cho phép xã hội và gia đình cùng tham gia vào quá trình chữa lành những sai lầm của trẻ vị thành niên. Đạo luật này là minh chứng đanh thép cho việc Việt Nam thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền trẻ em, đặc biệt là Công ước CRC, đưa nền tư pháp nước nhà tiệm cận với những chuẩn mực văn minh nhất của thế giới.
2. Tầm quan trọng của triết lý "Lấy người chưa thành niên làm trung tâm"
Toàn bộ "linh hồn" của 12 biện pháp xử lý chuyển hướng đều xoay quanh trục giá trị: Lấy người chưa thành niên làm trung tâm. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tư duy lấy người chưa thành niên làm trung tâm không phải là sự dung túng hay buông lỏng kỷ cương, mà là sự nhìn nhận thấu đáo về đặc điểm tâm sinh lý, sự phát triển chưa hoàn thiện của não bộ và khả năng uốn nắn, sửa chữa lỗi lầm vô hạn của tuổi trẻ.
Việc lấy người chưa thành niên làm trung tâm trong xử lý chuyển hướng có nghĩa là:
· Ưu tiên lợi ích tốt nhất: Mọi quyết định tố tụng đều phải đặt câu hỏi: "Biện pháp này có giúp đứa trẻ tốt lên không?" thay vì "Đứa trẻ này phải chịu bao nhiêu năm tù?".
· Cá thể hóa giáo dục: 12 biện pháp cung cấp 12 "phác đồ" khác nhau để cơ quan tư pháp lựa chọn sao cho phù hợp nhất với hoàn cảnh, tâm lý và nhu cầu của từng em.
· Xóa bỏ sự kỳ thị: Xử lý chuyển hướng bảo vệ các em khỏi sự dán nhãn "tội phạm", giúp các em giữ được sự tự trọng và niềm tin để quay lại học tập, cống hiến.
Đây chính là sự chuyển dịch từ tư pháp trừng phạt sang tư pháp phục hồi. Chúng ta không chỉ xử lý một vụ án, mà đang cứu vãn một cuộc đời; không chỉ thiết lập trật tự pháp luật, mà đang xây dựng lại niềm tin giữa con người với con người trong cộng đồng.
3. Lộ trình thực thi và triển vọng tương lai
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 và 12 biện pháp xử lý chuyển hướng mới chỉ là "phần khung" của một ngôi nhà nhân văn. Để ngôi nhà đó thực sự đi vào đời sống từ ngày 01/01/2026, chúng ta còn rất nhiều việc phải làm. Thách thức về nguồn nhân lực công tác xã hội, về hạ tầng y tế tâm thần và đặc biệt là thách thức về việc thay đổi tư duy của cộng đồng xã hội là những rào cản hiện hữu.
Tuy nhiên, với sự quyết tâm chính trị cao độ và sự đồng hành của cả hệ thống chính trị, chúng ta có quyền tin tưởng rằng: 12 biện pháp xử lý chuyển hướng sẽ trở thành những cánh cửa rộng mở, đón những người trẻ lầm lỡ trở về. Tư pháp dành cho người chưa thành niên tại Việt Nam sẽ không còn là "lưới sắt" của sự trừng trị, mà sẽ là "điểm tựa" của sự bao dung.
Lời kết: Đầu tư cho tư pháp người chưa thành niên chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Một đứa trẻ được chuyển hướng xử lý đúng cách ngày hôm nay sẽ trở thành một công dân hữu ích ngày mai. Hy vọng rằng, những kết quả nghiên cứu trong bài viết này sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào việc hiện thực hóa những giá trị cao đẹp mà Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024 hướng tới, vì một tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ trẻ Việt Nam.
- HẾT -





